CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu trên thế giới Từ trước đến nay, có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả được thực hiện nhằm phân tích tương tác kết cấu-móng-đất nền cũng như ảnh hưởng của tương tác này đến ứng xử của kết cấu công trình bên trên. Năm 1947, Mayerhof đã thực hiện nghiên cứu quan trắc độ lún lệch của công trình thực tế và đưa ra kết luận về mức độ tác động của của độ lún không đều đến kết cấu dầm của công trình bên trên. Theo Mayerhof thì độ lún lệch từ 1 inch đến 2 inch của công trình là không thể tránh khỏi và không thực sự ảnh hưởng nhiều đến kết cấu công trình bên trên.
Tuy nhiên, khi độ lún lệch giữa các chân cột lên đến 3 inch thì có thể gây nguy hiểm nghiêm trọng cho kết cấu bên trên. DeJong and Morgenstern (1971) đã phát triển nghiên cứu và phân tích tương tác đất nền-kết cấu (SSI) bằng cách mô phỏng kết cấu, móng và đất nền là một thể thống nhất. Trong đó, phần tử lò xo được sử dụng để mô phỏng tương tác bè – cọc và tương tác giữa cọc với đất và thông số phần tử lò xo được xác định dựa trên lý thuyết nền đàn hồi Winkler. Theo tác giả thì chỉ với độ lún lệch của móng nhỏ cũng có thể gây ra những ảnh hưởng lớn đến kết cấu dầm bên trên.
Man (1977) đã nghiên cứu ứng xử của hệ kết cấu khung bê tông cốt thép dưới tác động độ lún lệch của cột. Nghiên cứu đã cho thấy cấu kiện dầm có xu hướng bị ảnh hưởng bởi độ lún lệch nhiều hơn so với cấu kiện cột. Năm 1987, D’Orazio và cộng sự cũng đã khảo sát mức độ tác động của lún lệch lên bể thép chứa nước. Dutta và cộng sự (1999) tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của tương tác đất nền-kết cấu đến giá trị nội lực trong kết cấu cột.
Nghiên cứu đã cho thấy giá trị moment trong cột khi chịu tác động của lún lệch lớn hơn so với sơ đồ ngàm tại chân cột và đồng thời cũng đưa ra một giải pháp dự đoán sự thay đổi nội lực trong cột khi có lún lệch xảy ra. Đến năm 2001, Roy và dutta đã tiếp tục phân tích mức độ tác động của tương tác đất nền-kết cấu đến ứng xử của kết cấu dầm. Về sau, khi các phần mềm phần tử hữu hạn phát triển, việc xét đến sự tương tác kết cấu - móng - đất được thực hiện một cách tự động. Agarwal and Hora (2010) đã áp dụng phần mềm phần tử hữu hạn để mô phỏng hệ khung kết cấu 2 tầng làm việc đồng thời cùng với hệ móng và đất nền.
Tác giả đã đưa ra kết luận giá trị nội lực trong khung kết cấu bên trên gia tăng đáng kể khi chịu tác động của độ lún không đều 4 của nền đất. Năm 2014, Reddy và Rao đã mô phỏng thí nghiệm hệ khung kết cấu và móng trên nền đất cát chịu tác động của tải trọng tĩnh. Kết quả thí nghiệm đã cho thấy giá trị lực cắt và moment trong dầm khung kết cấu bị gia tăng đáng kể khi có độ lún không đều giữa các cột so với mô hình ngàm tại chân cột. Lin và cộng sự (2015) cũng đã ứng dụng phần mềm phần tử hữu hạn mô phỏng hệ khung không gian 10 tầng và tiến hành thay đổi độ lún lệch giữa các chân cột để khảo sát mức độ ảnh hưởng của độ lún không đều đến ứng xử kết cấu khung.
Các nghiên cứu trong nước Năm 2018, Nguyễn Văn Nhân đã tiến hành nghiên cứu sự làm việc đồng thời của hệ kết cấu công trình – móng bè cọc – đất nền bằng phần mềm PLAXIS 3D. Trong nghiên cứu này, tác giả đã so sánh kết quả phân tích giữa phần mềm PLAXIS 3D và phần mềm SAP2000 để đưa ra đánh giá về khả năng ứng dụng của phần mềm SAP2000 trong việc phân tích ứng xử của hệ kết cấu công trình - móng bè cọc – đất nền cùng làm việc đồng thời. Ngoài ra, bằng việc mô phỏng cả hệ khung, bè cọc và đất nền trong phần mềm PLAXIS 3D, tác giả đã phân tích ảnh hưởng của chiều dày bè, cách bố trí cọc, số tầng hầm và tác động của động đất đến ứng xử của hệ khung – bè cọc. Năm 2019, Nguyễn Nam Khánh cũng ứng dụng phần mềm PLAXIS 3D trong việc phân tích ảnh hưởng của tương tác đất nền-kết cấu đến ứng xử động của công trình.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã mô phỏng cả hệ khung kết cấu công trình, hệ msong bè-cọc và đất nền cùng làm việc đồng thời trong phần mèm PLAXIS 3D. Sau đó, các kết quả ứng xử động gồm chu kỳ dao động, tần số, … phân tích trong phần mềm PLAXIS 3D được so sánh với kết quả phân tích từ phần mềm chuyên dụng phân tích kết cấu. Từ đó, đưa ra kết luận về ứng xử động của kết cấu công trình khi có xét đến sự làm việc đồng thời của hệ khung kết cấu-móng-đất nền. Đến năm 2020, Tô Lê Hương và cộng sự cũng tiến dựa trên phần mềm PLAXIS 3D để mô phỏng hệ móng bè cọc và khung kết cấu làm việc đồng thời để tiến hành phân tích và so sánh kết quả nội lực trong bè và cọc so với phương pháp móng bè – cọc làm việc độc lập.
Nhận xét Qua các nghiên cứu của các tác giả ở Việt Nam và trên thế giới, học viên nhận thấy rất nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích ứng xử của hệ khung kết cấu công trình bên trên dưới tác động độ lún không đều của nền đất. Tuy nhiên, đa 5 phần các nghiên cứu được thực hiện bằng việc mô phỏng hệ khung kết cấu bên trên ngàm tại chân cột. Sau đó, độ lún không đều của nền đất được khảo sát thông qua việc thay độ độ lún chân ngàm chênh lệch giữa hai cột và tiến hành khảo sát sự thay đổi nội lực kết cấu khung cho từng trường hợp như trong các nghiên cứu của Mayerhof (1947), Dejong & Morgenstern (1971) và Roy & Dutta (2001). Bên cạnh đó, một số nghiên cứu được thực hiện có xét đến hệ khung kết cấu-móng-đất nền cùng làm việc đồng thời, tuy nhiên đất nền chỉ được mô phỏng như là các phần tử lò xo và chưa thực sự phản ánh đúng ứng sử thực tế của nền đất.
Về sau, cùng với sự phát triển của các phần mềm phần tử hữu hạn, một số nghiên cứu đã được thực hiện và mô phỏng cả hệ kết cấu bên trên làm việc đồng thời cùng với hệ móng bè-cọc và đất nền bên dưới, điển hình là các nghiên cứu của Nguyễn Văn Nhân (2018), Tô Lê Hương, Lê Bá Vinh, & Nguyễn Nhựt Nhứt (2020). Tuy nhiên, do sự hạn chế về các số liệu quan trắc thực tế của các công trình sử dụng giải pháp móng bè cọc nên các nghiên cứu này phần lớn được thực hiện dựa trên việc giả định một công trình và địa chất bất kỳ tương ứng, sau đó mô phỏng trong phần mềm PLAXIS 3D và tiến hành phân tích các ứng xử kết cấu bên trên và hệ móng bè – cọc bên dưới. Do đó, trong nghiên cứu này, học viên tiến hành áp dụng phần mềm PLAXIS 3D, một trong những phần mềm chuyên dụng phân tích các bài toán địa kỹ thuật để mô phỏng hệ khung kết cấu – móng bè cọc – đất nền của một công trình thực tế. Bên cạnh đó, các kết quả ứng xử của coogn trình gồm độ lún theo thời gian, độ lún ổn định, kết quả phân chia tải giữa bè và cọc sau khi phân tích trong phần mềm PLAXIS 3D được kiểm chứng với các giá trị quan trắc thực tế để tăng độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu.
Sau đó, các ứng xử của hệ kết cấu bên trên (moment, lực cắt trong dầm và cột) được so sánh giữa phương pháp phân truyền thống xem chân cột được ngàm cứng tại mặt móng (FB) và phương pháp phân tích có xét đến sự làm việc đồng thời của hệ khung kết cấu-móng-đất nền (SSI) để thấy được sự sai khác giữa hai phương pháp cũng như sự cần thiết xét đến tương tác SSI trong các bài toán thiết kế. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT MÔ PHỎNG HỆ KHUNG-MÓNG-ĐẤT NỀN ĐỒNG THỜI 2. Phương pháp mô phỏng kết cấu bên trên và bè trên hệ thống lò xo cọc Phương pháp này được dùng phổ biến trong thiết kế thực tế. Trong phương pháp này sự làm việc của đất dưới bè, sự tương tác giữa cọc với cọc và sự tương tác giữa cọc với bè được bỏ qua.
Thông thường, giá trị độ cứng lò xo cọc được xác định dựa vào đường cong quan hệ độ lún và tải trọng từ kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc. Khi không có kết quả thí nghiệm, giá trị KP có thể lấy theo công thức thực nghiệm KP = 2EA/L (E – modulus đàn hồi của cọc, A diện tích tiết diện ngang của cọc, và L chiều dài cọc). Dựa trên phân tích các kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc của 237 cọc ở Bangkok, giá trị Kp của cọc nhồi nằm trong khoảng từ 0.5EA/L đến 4EA/L với giá trị trung bình là KP = 2EA/L.1: Sơ đồ phân tích nội lực khung và bè (Nguồn: Nguyễn Văn Nhân, 2018) 7 2. Phương pháp mô phỏng kết cấu bên trên và bè trên hệ thống lò xo cọc và đất (không xét đến tương tác giữa cọc với cọc và giữa cọc với bè) Phân tích tương tự phương pháp trên, nhưng có xét đến tương tác giữa bè với đất thông qua các lò xo đất giữa các cọc.
Giá trị độ cứng lò xo đất được xác định thông qua bàn nén hiện trường hoặc ước lượng thông qua các công thức thực nghiệm.2: Sơ đồ phân tích nội lực trong khung và bè (Nguồn: Nguyễn Văn Nhân, 2018) 2. Phương pháp mô phỏng kết cấu bên trên và bè trên hệ thống lò xo cọc và đất (có xét đến tương tác giữa cọc với cọc và giữa cọc với bè) Trong phương pháp này, độ cứng của lò xo cọc và đất có xét đến sự ảnh hưởng tương hỗ giữa đất và kết cấu. Có bốn ảnh hưởng sau: Sự tương tác giữa cọc và đất; sự tương tác giữa cọc và cọc; sự tương tác giữa đất và móng bè; sự tương tác giữa cọc và móng bè.3: Các loại tương tác trong hệ thống móng bè –cọc (Nguồn: Nguyễn Văn Nhân, 2018) 2.