Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Từ ngữ tôn giáo – một hiện tượng ngôn ngữ xã hội Ngôn ngữ là thống nhất cho toàn xã hội. Mặt khác, ngôn ngữ cũng lại rất đa dạng trong thể hiện. Sự thể hiện của một ngôn ngữ có thể đƣợc khảo sát theo nhiều bình diện : bình diện phong cách thể hiện, bình diện hiệu quả thể hiện, bình diện khu vực dân cƣ thể hiện.
Ta hoàn toàn có thể nói, ngôn ngữ là thƣớc đo bản chất và bản sắc của một ngƣời, là dấu chỉ sự ứng xử văn hóa và trình độ học vấn của ngƣời ấy. Theo Trần Thị Ngọc Lang [40, tr.16] thì : “Con ngƣời xã hội không tồn tại đơn lẻ mà sinh sống – tức có quan hệ trực tiếp với nhau hoặc toàn diện, hoặc về một mặt nào đó – trong một nhóm xã hội nhất định (về nghề nghiệp, về tôn giáo, về địa vị kinh tế trong xã hội, về sinh hoạt văn hóa, v.” Ngoài ngôn ngữ, con ngƣời còn có nhiều phƣơng tiện để giao tiếp nhƣ bằng ánh mắt, bằng cử chỉ hoặc một kí hiệu nào đó để biểu đạt điều mình muốn nói, nhƣng xét cho cùng, ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu quan trọng nhất. Các hàng rào địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, … đã ngăn cản con ngƣời giao tiếp rộng rãi với nhau. Sự cách biệt này làm nảy sinh tính đa dạng về lối sống và một tất yếu kèm theo là sự khác biệt ngôn ngữ sẽ làm nên những hệ thống từ ngữ chuyên biệt.
Mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng dân tộc đều có một ngôn ngữ thống nhất, nhƣng tính thống nhất này không mang ý nghĩa tuyệt đối. Do hoàn cảnh địa lý và điều kiện lịch sử, ảnh hƣởng văn hóa, sự phân bố giai tầng trong xã hội đã làm nảy sinh những lớp từ ngữ mới. Ngôn từ ít nhiều bị biến đổi trong các nhóm xã hội cùng tộc ngƣời, cùng tôn giáo và cùng địa vị kinh tế, cùng nhóm tiểu văn hóa có cùng trình độ học vấn. Trong xã hội, khi giao tiếp, không phải lúc nào chúng ta cũng sử dụng chung một hệ thống từ ngữ cho mọi đối tƣợng, mọi hoàn cảnh.
Nếu các cộng đồng xã hội đƣợc phân biệt theo giới tính (nam, nữ), theo thế hệ (già, trẻ), theo ngành nghề (nông dân, bác sĩ), theo tôn giáo (giáo chức, tín đồ), … thì hoạt động ngôn ngữ của 10 những cộng đồng này sẽ có những đặc điểm riêng về nội dung và hình thức, nhƣ tác giả Trần Thị Ngọc Lang [40, tr.21-22] cũng nhận định thêm rằng :“Có những tôn giáo, những xã hội quy định rõ các giai tầng và quy cách quan hệ giữa những ngƣời cùng một giai tầng hoặc với ngƣời ở giai tầng khác, trong đó có những quy định nghiêm ngặt về cách nói … và ngƣời ta luôn có sự tự ý thức về tầng lớp xã hội của mình, cố gắng gìn giữ hoặc biến đổi các đặc điểm ngôn ngữ để định ranh giới, làm nên sự khu biệt cho tầng lớp này.” Nếu một ngƣời nào đó có những vai xã hội khác nhau, thì tùy theo vai xã hội của mình trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà phải sử dụng lời ăn tiếng nói của mình sao cho phù hợp, do đó khi thì có đặc điểm của cộng đồng ngôn từ này, khi thì thể hiện đặc điểm của cộng đồng ngôn từ khác. Bởi vì sự khác nhau về phong cách nói năng thƣờng cùng thay đổi với những khác biệt về mặt cộng đồng xã hội. Sinh hoạt trong cộng đồng xã hội nào thì chúng ta phải nói năng cho phù hợp với thói quen sinh hoạt ngôn ngữ của cộng đồng xã hội ấy. Có những quy luật trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, ngƣời ta có xu hƣớng ứng xử theo những cách thức thông dụng.
Sống trong những tổ chức xã hội, con ngƣời phải tuân theo những khuôn mẫu hành vi chung của tổ chức, xã hội đó. Ví dụ: Sống ở Việt Nam, khi nghe hỏi thăm sức khỏe mà câu trả lời là “Tốt” hoặc “Nhờ Trời tôi vẫn khỏe” là chúng ta đã ngầm tự “thông báo” rằng tôi là kẻ “ngoại đạo”, hoặc có ngƣời trả lời là “Cảm ơn Chúa, tôi vẫn khỏe”; “Đội ơn Đức Mẹ, sức khỏe vẫn tốt”, … thì đó là ngƣời theo Công giáo. Ta biết, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội. Đặc điểm quan trọng trong ý thức tôn giáo là một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội.
Mặt khác, nó lại có xu hƣớng phản kháng lại xã hội đã sản sinh ra và nuôi dƣỡng nó. Vì vậy, từ khi ra đời đến nay, cùng với sự biến đổi của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo. Thế nên, từ ngữ về tôn giáo, hay còn gọi là biệt ngữ, không tránh khỏi nhiều sự biến đổi. Nhƣng những sự biến đổi của ngôn ngữ không ngoài mục đích giao tiếp, phục vụ cuộc sống con ngƣời.
11 Mỗi tôn giáo đều có hệ thống biệt ngữ riêng, biệt ngữ Phật giáo khác biệt ngữ Công giáo, Nho giáo, Cao Đài, v. Mặc dù ngôn ngữ của từng nhóm ngƣời mang những đặc điểm riêng biệt nhƣng không tách rời, làm biến chất tiếng Việt, chẳng hạn, các loại sách do nhà in của giáo hội cung cấp cho những ngƣời Công giáo, những truyện, ký do ngƣời Công giáo ghi chép hay sáng tác nhƣ Nhật trình kim thƣ nhất chính Chúa giáo của Phi-lip-phê Bỉnh, Truyện thày La-za-rô Phiền của Nguyễn Trọng Quản và cả trong các bản dịch Kinh Thánh, sách giáo lý. Những từ ngữ mới mẻ và lối nói mà trƣớc đó hẳn chƣa hề có trong tiếng Việt nhƣ “nhờ Chúa ban phƣớc lành”, “tôi xin Chúa giảng ra cho tôi khỏi dấu thày…”, “Đấng chăn chiên coi sóc bổn đạo”, v. là kiểu thức nói năng đặc thù của cộng đồng Công giáo lúc bấy giờ.
Thế rồi dần dần một số lối nói nhƣ vậy không còn xa lạ đối với đa số và trở thành phổ biến trong tiếng Việt. Theo thời gian, lớp từ này cùng với lớp từ thuộc những tôn giáo khác góp thêm vào và làm phong phú cho ngôn ngữ toàn dân. Tìm hiểu chung về kinh Tân ước 1. Vài nét sơ lược về Kinh Thánh Kinh Thánh là một tuyệt tác của Công giáo.
Kinh Thánh là một quyển sách đƣợc phát hành với số lƣợng lớn nhất trong lịch sử xuất bản của nhân loại. Đây là một văn kiện đƣợc các tôn giáo lớn nhƣ Hội thánh Công giáo La Mã, Hội thánh Công giáo Chính thống phƣơng Đông và rất nhiều Hội thánh Tin Lành khác sử dụng nhƣ nền tảng vững chắc của những giáo huấn cơ bản nhất. Ngoài ra, Kinh Thánh còn đƣợc coi là Lời Của Chúa. Riêng đối với các nhà học giả và những bạn đọc không sử dụng Kinh Thánh với mục đích tôn giáo sẽ tìm thấy trong tác phẩm này những giá trị sử học, nhân văn học, triết học, ngôn ngữ học và những giá trị văn hóa tinh thần đã vƣợt qua nhiều thời đại.
Kinh Thánh đƣợc chia ra thành hai phần Cựu ƣớc và Tân ƣớc. Nhìn chung, tiêu điểm chung của toàn bộ Kinh Thánh tập trung vào giao ƣớc giữa Thiên Chúa và con ngƣời, trong đó, nhân vật Chúa Giê-su là tâm điểm của Kinh Thánh – một mắt xích nối kết hai phần Cựu ƣớc và Tân ƣớc với nhau. Nguyễn Thơ Sinh trong Yếu tố tâm lý trong Kinh Thánh cho rằng : Theo nhóm Weo-hau và tính toán của họ thì Kinh Thánh Cựu ƣớc đƣợc biên soạn từ thế 12 kỉ thứ X đến thế kỉ V trƣớc Công nguyên (BC – Before Christ). Kinh Thánh Tân ƣớc đƣợc viết ra trong một khoảng thời gian ngắn hơn.
Tổng cộng có 27 sách trong Kinh Thánh Tân ƣớc viết trong một khoảng thời gian từ năm 50 đến năm 125 (khoảng 75 năm). Ngôn ngữ nguyên thủy của Kinh Thánh bao gồm ba ngôn ngữ là tiếng Do Thái, tiếng Xy-ri và tiếng Koi-ni Hy Lạp. Khi những nhà truyền giáo đầu tiên đến Việt Nam có thể sử dụng tiếng Việt trôi chảy thì chữ Quốc ngữ đã phổ biến và thay thế chữ Nho để trở nên ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam, mặc dù chữ Nho vẫn còn là ngôn ngữ của các học giả thuộc thế hệ trƣớc. Giống những khu vực truyền giáo khác của Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp, các giáo sĩ tại Việt Nam ủy thác việc dịch thuật và văn phẩm cho những tín hữu ngƣời Việt đã đƣợc huấn luyện đặc biệt cho công việc này, với mục tiêu hàng đầu là dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt.
Sự hình thành và phát triển của kinh Tân ước Tân ƣớc, còn đƣợc gọi là Tân ƣớc Hy Lạp (Gờ-rít Tét-ta-men) đƣợc dịch ra từ Kinh Thánh Cơ Đốc, viết sau khi Chúa Giê-su sinh ra. Tiếng La Tinh gọi Tân ƣớc là Ni-um Tét-ta-men-tum, đƣợc dịch từ tiếng Hy Lạp (I Ke-ni đờ-hi-a-thi-ki), có nghĩa là Giao ƣớc mới đƣợc các tín đồ Cơ Đốc sử dụng để diễn tả quan hệ giữa con ngƣời với Thiên Chúa. Sau đó, Te-tu-li-an (55-230 sau Công nguyên) là một nhân vật quan trọng của Hội Thánh đã trở thành một cây bút xuất sắc vào những ngày đầu của Cơ Đốc giáo. Có thể nói công lao của Te-tu-li-an trong việc dịch thuật Kinh Thánh qua tiếng La tinh là rất quan trọng đối với lịch sử cuốn Kinh Thánh.
Bộ kinh Tân ƣớc đƣợc viết trong một khoảng thời gian dài, vì thế, mỗi tác phẩm đƣợc viết lên gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể và nhằm mục đích cụ thể. Vì thế, để hiểu rõ về bộ kinh này cần đặt nó vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Bộ kinh đƣợc ra đời vào thời đế quốc Rô-ma đang đặt nền đô hộ của mình trên hầu khắp các nƣớc thuộc vùng Địa Trung hải, trong đó có xứ Pa-lét-tin – nơi Chúa Giê- su sinh ra, cũng là nơi khởi sự nhiều tác phẩm kinh Tân ƣớc. Kinh Tân ƣớc ra đời sau khi kinh Cựu ƣớc đã đƣợc hoàn thành.
Kinh Tân ƣớc với 27 tác phẩm đồ sộ đã đƣợc sắp xếp theo một thứ tự mà chúng ta thƣờng gặp trong các sách Kinh Thánh đã đƣợc xuất bản : bốn quyển Phúc Âm (Mát-thêu, Lu- 13 ca, Gio-an, Mác-cô), Công vụ Tông đồ, 21 lá thƣ của nhiều tác giả. Nhƣng, các nhà nghiên cứu Kinh Thánh đều thống nhất, đây không phải là trật tự hình thành của kinh Tân ƣớc. Các sách này đƣợc sắp xếp theo thời gian gắn liền với cuộc đời của Chúa Giê-su : sinh ra, hoạt động tại trần thế, lịch sử tiên khởi của Hội thánh, chỉ dạy về sống đạo của các Tông đồ và cuối cùng là Cánh chung (tận thế). Cách sắp xếp này có phần giống nhƣ trong Cựu ƣớc nhƣng không theo thứ tự hình thành các sách.