Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYET CHUNG VE BIỆT NGỮ 1. TONG QUAN CÁC TAI LIEU NGHIÊN CUU VE BIỆT NGỮ Biệt ngữ là một dé tài đã và dang thu hút sự quan tam nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và nước ngoài. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về biệt ngữ trong tiếng Anh: như cuốn Indefense of jargon (Những tiện ích của biệt ngữ) của tác giả Peter Ives ấn hành năm 1999. Hay cuốn Forbidden words taboo and the censoring of language (Tir cdm ky) của tác giả Keith Allan va Kate Burridge, do nha xuất ban Cambridge University Press ấn hành năm 2006.
Trong cuốn The Jargon file (Biét ngữ tin) do tác giả Raphael Finked viết năm 1975, cuốn sách là một bộ sưu tập các từ ngữ biệt ngữ của ngành công nghệ thông tin từ khi công nghệ thông tin còn ở thời kỳ sơ khai. Cuốn The Jargon of Authenticity (Tính xác thực của biệt ngữ) của tác giả Theodor W.Adorno (1973) nhà xuất bản Northewestern University Press ấn hành, cuốn sách là một phê bình triết học của Heidegger và tư tưởng Đức, giá tri trọng tâm của nó là về biệt ngữ hiện sinh, mỗi quan hệ giữa ngôn ngữ và chân lý. Ngoài ra còn có nhiều cuốn từ điển biệt ngữ tiếng Anh được ấn hành, như cuốn A dictionary of slang and jargon (Từ điển tiếng long và biệt ngữ) của Barrere, M.V, do nhà xuất bản Ballantyne Press ấn hành năm 1889; Hay các cuốn từ điển như: Petit Larousse illustre' do nhà xuất ban Larousse ấn hành năm (1973), từ điển Advanced learner's English dictionary (London, xuất bản năm 1993), ở hai cuốn từ điển này đều không phân biệt tiếng lóng, biệt ngữ và từ nghề nghiệp. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về biệt ngữ trong tiếng Việt của các nhà ngôn ngữ học như: Hoàng Thị Châu, Đỗ Hữu Châu (1981), Đái Xuân Ninh - Nguyễn Đức Dân - Nguyễn Quang - Vương Toàn, Nguyễn Văn Tu.
Tuy nhiên chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu về biệt ngữ trong tiếng Việt. Hầu như các tác giả mới chỉ đưa ra các khái niệm về biệt ngữ. Quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học về biệt ngữ vẫn còn có nhiều điểm không thống nhất, bởi vì họ đứng trên nhiều quan điểm và ở các thời điểm khác nhau dé nhìn nhận hiện tượng này. Các nhà nghiên cứu vẫn nhìn nhận vẫn đề biệt ngữ một cách dè dặt.
Trong các giáo trình về từ vựng học, biệt ngữ mới chỉ được đề cập đến như một hiện tượng đặc thu, hạn hẹp thuộc phạm vi phương ngữ xã hội. Các nghiên cứu trên nhìn chung vẫn còn dé ngỏ những van đề sau: - Chưa đi sâu vào khảo sát các đặc tính cũng như bản chất ngôn ngữ học của biệt ngữ. - Các công trình thực sự đi sâu chuyên nghiên cứu về biệt ngữ chưa nhiều. - Chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của các từ ngữ biệt ngữ của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay.
KHÁI NIỆM BIỆT NGỮ 1. Nguồn gốc của thuật ngữ "biệt ngữ" Biệt ngữ, tiếng Anh là jargon là những thuật ngữ kỹ thuật thuộc các lĩnh vực riêng biệt đòi hỏi có vốn từ vựng chuyên ngành. Khái niệm biệt ngữ (jargon) xuất hiện vào cuối thế kỷ 14 vốn có nghĩa là “twittering of birds” (tiếng hót líu lo của loài chim). Dan dan từ biệt ngữ được dùng dé chỉ những thuật ngữ kỹ thuật của những ngành nghề cụ thể, là cách nói và viết khó hiểu.
Những nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về biệt ngữ đều thống nhất rằng biệt ngữ chủ yếu nói về các tiện ích chứ không bao gồm những từ ngữ chủ tính quỷ quyệt, gian xảo, thủ đoạn như tiếng lóng. Trong tiếng Việt, chưa có ai đặt ra câu hỏi đưa ra câu trả lời cho nó: biệt ngữ xuất hiện từ bao giờ? Theo cuốn "Chinock - Jargon" của tác giả Edward H. Thomos xuất bản năm 1935 thì Jargon (biệt ngữ) được sinh ra trong thời kỳ trước khi tiếp xúc với châu Âu và đã được những người sống ở phía Bắc của dao Vancouver và ở phía Nam bờ biển California sử dụng. Jargon được sử dụng như một ngôn ngữ thương mại không chỉ giữa các dân tộc bản địa của các bộ lạc khác nhau mà còn là thứ "tiếng pha trộn ở miền Cận Đông" giữa các nhóm cũng không thuộc địa phương đó.
Hầu như tất cả những người định cư ở vùng lãnh thô Oregon đã học được một số tir ngữ jargon (biệt ngữ) dé giao tiếp với các nước láng giềng của họ. Ngôn ngữ được sử dụng từ những năm 1920 và cho đến nay vẫn dùng thông qua vùng Tây Bắc. Như vậy: - Khái niệm biệt ngữ xuất hiện vào khoảng thế kỷ 14 vốn có nghĩa là "tiếng hót líu lo của các loài chim". Dần dần biệt ngữ được dùng để chỉ các thuật ngữ kỹ thuật ngành nghề cụ thé, là cách nói và viết khó hiểu.
- Khái niệm biệt ngữ chủ yếu là nói về các tiện ích, di dom,. Định nghĩa biệt ngữ Cho đến nay đã có không ít định nghĩa về biệt ngữ. Sau đây, chúng tôi xin dẫn ra một số định nghĩa biệt ngữ trong từ điển và quan niệm về biệt ngữ của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở trong và ngoài nước. Định nghĩa trong từ điển Trong các từ điển ngữ văn, biệt ngữ thường được đưa ra như một mục từ kẻm theo lời giải thích.
Biệt ngữ: Theo từ dién Bách khoa Việt Nam [61, 285] "Là tập hợp những yếu tố ngôn ngữ riêng, mang tính đặc thù của một nhóm người trong cộng đồng ngôn ngữ. Nhờ biệt ngữ, nhóm người này có thể phân biệt được với các nhóm người khác trong cùng cộng đồng ngôn ngữ đó. Về cấu trúc, biệt ngữ là một thứ ngôn ngữ phát sinh từ ngôn ngữ tự nhiên, không hoàn chỉnh và không có tính hệ thống cao. Thông thường, biệt ngữ không khác ngôn ngữ tự nhiên về ngữ âm và ngữ pháp, chỉ khác chủ yếu về một số đơn vị từ vựng".
Biệt ngữ: Theo cuôn Đại từ điển tiếng Việt: "Là ngôn ngữ của một nhóm người trong xã hội sử dụng (thường trong khẩu ngữ) nhằm cách biệt ngôn ngữ với những người khác ngoài nhóm ấy của một cộng đồng ngôn ngữ". [59,120] Biệt ngữ: Theo cuỗn Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học sơ thảo: "Biệt ngữ (cũng dịch là tiếng lóng) jargon: (1) Thứ ngôn ngữ thuộc nghề nghiệp hoặc thuộc công nghệ, nhất là trong những cách dùng không trong sáng, được dùng trong những lĩnh vực khác nhau. [2, 62- 63] Biệt ngữ: Theo tư liệu Ngữ văn lớp 8 [50, 51], (Còn gọi là các phương ngữ xã hội) bao gồm các đơn vị từ vựng (từ, ngữ cố định, các quán ngữ) được sử dụng trong phạm vi một tap thể xã hội nhất định. Tập thé xã hội đó có thé là những giai cấp thống trị trong xã hội cũ, những giới xã hội như công chức, học sinh, những người buôn bán, những người lái xe, quân đội.
Cũng có những biệt ngữ của những người thường xuyên tham dự một trò giải trí, một môn thé dục thé thao nao day. Ví dụ: - Biệt ngữ của những người theo đạo Thiên Chúa: nữ tu, thay già, li, ơn ích, kẻ lành, ông quản. - Biệt ngữ của triều đình phong kiến: Trdm, Khanh, long thé, long nhan, ngự giá, hoàng dé, vương mẫu, nương nương, ái phi, long bào. Trong biệt ngữ, nên phân biệt làm hai loại: những biệt ngữ là tên gọi chính thức của các sự vật, hiện tượng,.
thực có trong một tập thể xã hội đó, như những biệt ngữ: ngai vàng, tan, long, cung,. và các tên gọi quan tước, phâm trật của triêu đình phong kiến. Những biệt ngữ này có tính toàn dân cao hơn, dé dang được toan thé xã hội sử dụng khi cần thiết. Thứ hai, là những biệt ngữ như là những tên gọi thêm, chồng lên tên gọi chính thức, các tập thể xã hội sản sinh ra chúng với mục đích phân biệt mình với những tập thể xã hội khác, như các biệt ngữ: trẫm (tức là "tôi", "ta"), ngự thiện (tức là "ăn, nói về vua").
Jargon (biệt ngữ): Theo cuôn từ dién A dictionary of slang, jargon and cant embracing English, American, and Anglo-indian slang, pidgin English, tinker's jargon, and otherirregular phraseclogi (Từ điển tiếng long, biệt ngữ gồm Anh, My và tiếng long Anh - An Độ, tiếng Anh bồi biệt ngữ chọc ngoáy và từ ngữ không thường xuyên khác): "có nghĩa là (1) vô nghĩa, không mạch lạc hoặc nói chuyện vô nghĩa; (2) một loại ngôn ngữ lai hoặc phương ngữ bồi; (3) là ngôn ngữ chuyên ngành hoặc kỹ thuật thương mại, nghề nghiệp hoặc nhóm phương ngữ; (4) lời phát biểu băng văn bản có vốn từ vựng bất thường hay khoe khoang, phân nhịp phức tạp và ý nghĩa mơ hồ. Từ điển còn chú thích: Biệt ngữ là một ngôn ngữ đặc trưng của một nhóm cụ thê (như giữa các kẻ trộm)". Jargon: Theo từ điển Oxford Dictionaries: "Được dịch là thuật ngữ hay biệt ngữ: là những từ ngữ đặc biệt hoặc biéu thức được một nghề nghiệp hoặc nhóm sử dụng mà rất khó cho những người khác dé hiểu".com) Jargon: Theo từ điền Oxford English - Vietnamese: "Biệt ngữ, tiếng của một giới, một ngành chuyên môn; tiếng long, tiếng man rợ." [68, 466] Trong tiếng Nga, 3Kapron (biệt ngữ) là phương ngữ xã hội. Khác với khẩu ngữ chung bởi từ vựng đặc thủ và tính biểu cảm của các doan ngữ, nhưng biệt ngữ không có hệ thống ngữ pháp và ngữ âm riêng của mình.
Biệt ngữ phát triển trong môi trường của các tập thê kép kín. Không nên nhằm lẫn các biệt ngữ này với các ngôn ngữ nghé nghiệp được đặc trưng bằng hệ thống thuật ngữ phát triển mạnh và khá chính xác của một nghé, một lĩnh vực kỹ thuật nào đó. Biệt ngữ rất đa dạng về mặt từ vựng và phong cách, đặc điểm nổi bật của biệt ngữ là tính không cô định và tính dễ biến đổi nhanh chóng của từ. Quan niệm của các nhà nghiên cứu về biệt ngữ Bên cạnh các định nghĩa trong từ điển thì còn có các quan niệm khoa học của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học: Trước hết, tác giả Hoàng Thị Châu cho rằng bên cạnh các phương ngữ còn có những biệt ngữ (jargon) và tiếng long (argot).
Biệt ngữ là lỗi nói đặc biệt của một số tầng lớp trong xã hội. Trong thời kỳ phong kiến, giai cấp quý tộc do cố ý nói cho cầu kì đài các, để tự phân biệt với người dân thường và tạo ra biệt ngữ. Trước Cách mạng tháng Tám ở Huế có ngôn ngữ cung đình là thứ biệt ngữ dùng nhiều từ Hán Việt trong sinh hoạt hàng ngày và nói theo giọng Nam bộ. Học sinh va quân nhân, do môi trường sinh hoạt tập thé cũng hay có cách nói năng riêng biệt của mình [8, 59].