Chương 1: Cơ sở lí thuyết Trình bày các khái niệm: từ, từ kiêng kị, uyển ngữ và những lí thuyết cơ sở liên quan đến kiêng kị, uyển ngữ trong ngôn ngữ. Chương 2: Từ kiêng kị, uyển ngữ trong tiếng Việt Tập trung miêu tả, phân tích cấu trúc, ý nghĩa cũng như những nguyên nhân chính dẫn đến việc hình thành từ kiêng kị và uyển ngữ trong tiếng Việt. Chương 3: So sánh từ kiêng kị, uyển ngữ tiếng Việt với từ kiêng kị, uyển ngữ tiếng Khmer đồng bằng sông Cửu Long. So sánh từ kiêng kị, uyển ngữ trong tiếng Việt với tiếng Khmer để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong cấu trúc, ý nghĩa cũng như nguyên nhân hình thành hiện tượng này trong hai ngôn ngữ.
Kết luận 11 * Một số quy ước trình bày Dấu ngoặc vuông [x; y] hoặc [x; y – z]: x là số thứ tự tài liệu trong danh mục Tài liệu tham khảo; y là số trang hoặc từ số trang y đến số trang z có chứa phần được trích dẫn. Thuật ngữ ngôn ngữ học cần được làm rõ sẽ được in nghiêng. Các từ kiêng kị được đặt trong dấu ngoặc kép.Uyển ngữ được in nghiêng, hoặc in nghiêng và gạch chân. Kí hiệu “”: dẫn đến.
Kí hiệu “=” hoặc “/”: bằng, tương đương. Phần đặt trong kí hiệu /…/: phần phiên âm tiếng Khmer (theo cách đọc trong tiếng Việt) ĐBSCL: viết tắt của “đồng bằng sông Cửu Long”. KHÁI QUÁT TỪ TRONG NGÔN NGỮ Từ là một trong những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học, là phạm trù ngôn ngữ quan trọng bậc nhất của hệ thống ngôn ngữ. Từ là đơn vị cơ sở giúp con người có thể tiến hành hoạt động nhận thức và tư duy, tạo ra các sản phẩm ngôn ngữ trên từ.
Từ là đơn vị mang tính chất dùng chung, sở hữu chung, quy ước chung rất chặt chẽ giữa các thành viên trong cộng đồng ngôn ngữ. Về mặt khái quát, từ là đơn vị có sẵn, cố định, có tính chất xã hội, giúp con người nhận thức và giao tiếp. Về mặt hình thức, từ được đề cập đến khi xét một âm thanh để xác định các âm tố, âm tiết trên bình diện lời nói và âm vị trên bình diện ngôn ngữ. Về mặt nội dung, trên quan điểm từ vựng học, từ được đề cập đến theo chức năng biểu thị khái niệm, phản ánh sự vật, hiện tượng, con người, tư tưởng, tình cảm,.
thuộc về thực tế khách quan của loại đơn vị ngôn ngữ này. Bởi những lí do trên đây, từ là đơn vị cơ bản mang tính tổng thể hữu cơ, toàn diện và bao quát nhất ở tất cả các phương diện: ngữ âm, chữ viết, ngữ nghĩa, ngữ pháp, phong cách,. trong hệ thống ngôn ngữ.Trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, các từ luôn được tái hiện với tư cách là những đơn vị có sẵn và mỗi một từluôn được gặp trong những trường hợp sử dụng riêng biệt khác nhau, tuỳ theo những trường hợp tái hiện khác nhau. Từ tiếng Việt là đơn vị cơ bản, trung tâm của hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt.
Từ tiếng Việt là đơn vị mang tính tâm lí học, tri nhận học, mang bản sắc văn hoá dân tộc Việt1. Hiện nay, có khoảng trên 300 định nghĩa về từ nhưng không có định nghĩa nào phản ánh bao quát hết được bản chất của từ trong mọi ngôn ngữ. Việc đưa ra một định nghĩa từ tiếng Việt sao cho thoả đáng, được tất cả nhà ngôn ngữ đồng tình là một vấn đề hết sức khó khăn. Để nhận diện từ tiếng Việt, trong luận văn này chúng tôi chọn quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền” [21; 69].
Quan niệm này cũng gần với quan niệm của hai tác giả M. Emeneau và Cao 1. Xem thêm: Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục. Emeneau coi mỗi từ là một âm tiết, một chữ tách rời nhau.
Vì vậy, người ta xác định một từ dễ dàng [21; 9]. Trong tiếng Việt, bên cạnh từ, các nhà Việt ngữ học cũng cho rằng ngữ cố định là đơn vị tương đương với từ. “Ngữ cố định tiếng Việt cũng giống như từ là những đơn vị tồn tại hiển nhiên có sẵn, được hình thành trong quá trình phát triển của lịch sử – xã hội – ngôn ngữ. Ngữ cố định thường gồm một tập hợp các từ kết hợp với nhau theo một kết cấu tương đối vững chắc, ổn định, bất biến, khó tách rời, luôn có ý nghĩa hoàn chỉnh, dùng để tái hiện trong lời nói và gọi tên, biểu thị sự vật, hiện tượng, khái niệm như các từ” [49; 325], ví dụ: cứng đầu cứng cổ, đầu voi đuôi chuột, ba hoa thiên tướng, ba chìm bảy nổi, ba cọc ba đồng, chờ hết nước hết cái, nợ như chúa Chổm, kẻ Tấn người Tần, nhà tranh vách đất, nuôi ong tay áo, vắt cổ chày ra nước, nói trộm vía, nói một cách khác, như trên đã nói, coi như là,.
Chẳng hạn, chỉ với mấy từ ngữ ngắn gọn, hình ảnh đơn giản, các thành ngữ “ăn cháo đá bát” hay “qua cầu rút ván”, “qua sông đấm bòi vào sóng”,. đã thể hiện ý nghĩa hàm ẩn chỉ những kẻ vô ơn, bội bạc, ăn ở không có trước sau, đối xử tệ với người đã cưu mang, giúp đỡ mình. Ngữ cố định là một loại đơn vị từ vựng tương đương với từ bởi nhiều lí do sau đây: Một là trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ, nhất là với lối tư duy cụ thể của người Việt, loại đơn vị ngữ cố định (thành ngữ, quán ngữ) chiếm một tỉ lệ không nhỏ. Hai là ngữ cố định cũng mang tính chất sẵn có, tính hoàn chỉnh về nghĩa (ở những mức độ khác nhau), tính cố định, tính bắt buộc, tính xã hội,.
giống như từ. Ba là ngữ cố định cũng có khả năng tái hiện trong ngôn ngữ và trong lời nói, được hệ thống hoá trong các từ điển giống như đơn vị có sẵn – đơn vị từ. Bốn là về mặt ngữ nghĩa, ngữ cố định cũng biểu thị hiện thực khách quan, phản ánh thực tế khách quan giống như từ. Năm là về mặt ngữ pháp, ngữ cố định có thể thay thế cho một từ hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu hoặc chức năng đóng vai trò thành phần câu.
Sáu là ngữ cố định cũng là cơ sở để cấu tạo nên từ mới giống như từ. Sự giống nhau cơ bản nhất về chức năng của từ và ngữ cố định là chức năng tạo nên câu. Chức năng đóng vai trò là thành phần câu của chúng giống như từ, chúng có thể thay thế cho một từ hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu. Ví dụ: Từ “may mắn” trong câu: “Tôi thành công chỉ là do may mắn thôi ấy mà!” – có thể thay bằng: “Tôi thành công chỉ là do ăn mày vớ được chiếu manh thôi ấy mà!” 14 Chúng tôi đồng tình quan điểm của các tác giả cho rằng ngữ cố định cũng là một loại đơn vị từ vựng tương đương với từ.
Từ vựng tiếng Việt là tập hợp các từ và các ngữ tương đương với từ. Do đó, trong luận văn này, chúng tôi xem xét từ kiêng kị, uyển ngữ với tinh thần như vậy. TỪ KIÊNG KỊ 1. Khái niệm Từ kiêng kị còn được gọi là từ cấm kị (taboo word).
Theo Stephen Ullmann, taboo nguyên là một từ của tiếng Tongan, một dân tộc ở Polynesia, có nghĩa là điều kiêng kị (điều cấm kị). Kiêng trong tiếng Việt có từ nguyên là “kinh” (tiếng Hán), được du nhập vào nước ta từ thời kỳ Cổ Hán Việt. Để chỉ ý “tránh, kiêng tránh”, tiếng Hán dùng các từ “kị”, “tị”. Cũng cần lưu ý một sắc thái nghĩa là từ kiêng trong tiếng Việt hầu như chỉ dùng để chỉ những kiêng tránh cụ thể (như kiêng thịt, kiêng rượu,.) còn muốn nói khái quát, chỉmột tập tục, một khái niệm kiêng tránh nói chung thì cần phải dùng đến từ ghép kiêng kị.
Trong “Từ điển Tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên), “kiêng”có nghĩa là: 1. Tự ngăn cấm mình, tránh không ăn, không dùng những thức ăn nào đó, hoặc không làm việc nào đó vì có hại. Tránh điều gì, cái gì vì sợ có điều không hay, theo tôn giáo, tín ngưỡng. Tránh động chạm đến, vì nể sợ.
“Kiêng kị” có nghĩa là kiêng (nói khái quát; thường nói về phong tục, tín ngưỡng hoặc điều mê tín) hay nể sợ, giữ gìn (dùng trong câu có ý phủ định) [48; 525]. Kiêng là sự dè chừng, cảnh giác của mọi người trong cộng đồng đối với những sự vật, hiện tượng diễn ra trong cuộc sống. Kị cũng là sự tránh né, dè chừng nhưng được diễn ra có ý thức cao hơn kiêng. Kị còn được hiểu là cấm kị – nghiêm cấm, không được vi phạm.
Nếu cố làm trái đi, con người sẽ phải gánh chịu những hậu quả. Thông thường, những điều cần “kiêng” trong cuộc sống diễn ra nhiều và phổ biến hơn những điều cần “kị”. Về mặt từ ngữ, có thể nhận ra sự khác nhau giữa từ “kiêng kị” và “cấm kị”: kiêng kị có tính khuyên răn, chỉ dẫn cho hành vi của từng người trong cộng đồng; cấm kị – cũng với những chỉ dẫn đó, nhưng được thực hiện trong điều kiện bắt buộc, có tính pháp chế. Nói cách khác giữa kiêng kị và cấm kị có sự phân biệt: một bên nhấn 15 mạnh về phương diện đạo đức cộng đồng, một bên nhấn mạnh về phương diện pháp luật.
Từ vựng là tập hợp các từ, là một tổ chức lớn, rất phức tạp nhưng cũng rất quy củ. Trong mỗi hệ thống từ vựng đều có một lớp từ được coi là “thiêng liêng”, “thần bí” hoặc “gây sốc”. Trong số những từ “thiêng liêng”, “thần bí”, có những từ liên quan đến niềm tin tôn giáo, chỉ được giới tu hành, tăng lữ sử dụng trong những lễ nghi tôn giáo. Những người khác sử dụng chúng một cách bất cẩn sẽ bị coi là có hành vi báng bổ thánh thần.
Do đó, chúng trở thành từ kiêng kị. Trong những từ “gây sốc” cho người nghe có những từ liên quan đến những chủ đề mà mỗi cá nhân và xã hội không thích đề cập đến. Chúng thường bị coi là “uế tạp”, “không lịch sự”. Chúng cũng trở thành từ kiêng kị.
Từ kiêng kị là những từ, theo Stephen Ullmann, diễn tả nỗi sợ hãi, những cảm xúc tinh tế hoặc những ý nghĩa mang tính khuôn phép. Trong xã hội phong kiến, vua chúa đã thể hiện quyền lực của mình qua các định luật kiêng huý, từ đó hình thành những từ kiêng huý. Thêm nữa, người phương Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng có truyền thống tôn kính tổ tiên, nên tên của tổ tiên đều được kị húy.