MỞ ĐẦU Chè dây có tên khoa học là Ampelopsis cantoniensis Planch, được phân bỗ ở Lào, Trung Quốc, Indonexia, An Độ và Việt Nam. Ở Việt Nam chè dây mọc ở Cao Băng, Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Uông Bí, Hòa Bình, Bắc Thái, Hà Giang, Hà Tây, Quảng Nam, Kom Tum, Lâm Đồng,. Chè dây đã được sử dụng làm nước uống khá phố biến tại Việt Nam từ lâu đời, đa phần ở vùng núi cao. Theo các nghiên cứu, chè day là một loại thảo dược chứa hàm lượng flavonoid 18.15%, có khả năng chồng oxy hóa va kha năng kháng khuẩn đã được nghiên cứu bởi GS.TS Phạm Thanh Kỳ và các cộng sự.
Ngoài ra, Chè dây còn có hoạt tính sinh học cao như khả năng kháng viêm [2], giảm lipid trong máu, giảm xơ vữa động mach[3], đặc biệt là kha năng kháng khuẩn đối với Helicobacter Pylori (HP). Hiện nay chè dây đã được chiết xuất và bào chế thành thuốc AMPELOP để điều trị viêm loét dạ dày, nhưng trên lĩnh vực thực phẩm thì chỉ có một sản phẩm duy nhất là trà dây khô được pha uống theo phương pháp truyền thống của trà nói chung. Do đó, định hướng của dé tài Trích ly flavonoid trong chè dây (Ampelopsis cantoniensis Planch) tạo ché pham bột trà dây hoa tan nhằm mục đích khảo sát khả năng trích ly của dung môi nước so với ethanol và sử dụng dich chiết nước để tạo chế phẩm bột trà dây hòa tan, đa dạng hóa sản phẩm cho nguyên liệu chè dây. CHUONG 2 : TONG QUAN 2.1 Tong quan về cây chè dây 2.1 Đặc điểm thực vật và phân bồ của cây chè dây Cây chè dây có tên khoa học là Ampelopsis cantoniensis Planch, Vitaceae.
Cay chè dây thuộc họ dây leo, cành có lông nhỏ hình trụ mềm. Tua cuỗn chia thành 2 -3 nhánh mọc đối diện với lá, thay thé cho lá bị thoái hóa. Lá kép lông chim có 7 — 11 lá chét. Gốc lá đôi khi hình tim, dài 25 — 75 mm, rộng 15 — 20 mm.
Phién lá nhăn, mặt dưới ráp, màu nhạt, răng cưa đôi khi giảm thành mũi nhọn. Gan cấp hai có 4 — 5 đôi gân phụ tạo thành mạng lưới. Cuống lá chét dài 3 — 10 mm. Lá chét cuối cùng thường to và dài gấp đôi các lá chét khác.
Lá kèm hình mat chim. Hoa nhỏ cuống rất ngắn, cuộn hoa hình trứng tròn có những lông nhỏ. Đài hình đầu, cánh hoa 5, chỉ nhị hình chỉ. Nhụy hình trụ, đầu nhụy hầu như hình đĩa, bầu chia hai ô có hai noãn.
Quả mọng nâu den, hơi cay. Hoa nở vào tháng 6, quả chín vào tháng 9 [1] Chè dây là một loại thực vật hai lá mầm trong họ Nho, được phân bố ở Lào, Trung Quốc, Indonexia, Ân Độ. Ở Việt Nam chè dây mọc ở Cao Bang, Lao Cai, Lang Son, Hai Phong, Quang Ninh, Uông Bi, Hoa Binh, Bac Thai, Ha Giang, Ha Tay, Ninh Binh, Ha Tinh, Nghé An, Quang Nam, Kom Tum, Gia Lai, Lam Đồng [1].2 Thành phân hóa học của cây chè dây Theo nghiên cứu của Xu Zihong và các cộng sự đã xác định được các thành phân hóa học cơ bản của chè dây cùng các loại vitamin và khoáng chất. Ngoài ra, còn xác định hàm lượng flavone chiếm 4.73% trong thành phan hóa hoc.
Các thành phan hóa học cơ bản trong che dây được trình bày trong bang 2.1: Thành phan hóa hoc cơ ban chè đây [4] STT Thành phần Hàm lượng (%) I Độ am 7.2: Thanh phan vitamin và các khoáng chat trong 100g chè dây [4] STT Thành phần Khối lượng (mg/100g) | K* 224 2 Na? 27.3 Các hợp chất thứ cấp trong cây chè dây Các nghiên cứu còn cho thay rang, trong chè dây chứa rất nhiều các hợp chat với hoạt tính sinh học cao. Theo nghiên cứu của Nguyen Van Thu và các cộng sự [2], trong chè dây có chứa 16 hợp chất được tìm thấy sau khi phân tích (Bảng 2. Ngoài ra, hai hợp chất chính trong thành phan flavonoid của chè dây là myricetin với 5.TS Phạm Thanh Ky và cộng sự [4] xác định hàm lượng và khả năng chống oxy của chúng, trong 100g chè dây cũng đã được xác định có chứa 1.2g dihydromyricetin bởi Chen Zuanguang va cộng sự [5].3: Thành phan hợp chất thứ cấp có mặt trong chè dây [2] STT Thanh phan STT Thanh phan 1 Dihydromyricetin 9 | Alstilbin 2 | Myricetin I0 | Aromadendrin 3 | Myricitrin 11 | Methyl gallate 4 | Quercitrin 12 | 3.5 ,7-triol 5 | Phloretin I3 | Arbutin 6 | Phlorizin 14 | 2-(3 4-dihydroxyphenyl)ethyl-O-6-D- glucopyranoside 7 | 5,7 - dihydroxychromone 15 | Gallic acid 8 3 5,7- 16 | 3',5',5,7-tetrahydrox yflavanone trihydroxychromone Với thành phan đa dang và giàu hoạt tinh, chè day được xem như một dược liệu tốt cho sức khỏe con người. Ngoài những hợp chất trên, các thành phần khác cũng được tìm thay như tannin với ham lượng ( 10.4 Công dụng cua cây chè dây Đã có nhiều khảo sát và nghiên cứu về hoạt tính và công dụng của chè dây và thành phan đa dạng về các hop chat thứ cấp, với hàm lượng thành phan chính myricetin và dihydromyricetin đã được nghiên cứu có khả chống oxy hóa cao[4].
Theo Đỗ Thi Hà và cộng sự [6], thành phần chính myricetin trong dịch trích thô chè dây bằng dung môi methanol có khả năng chống oxy hóa LDL, giảm xơ vữa động mạnh. Ngoài ra còn có các đặc tính kháng viêm do ức chế nitrit oxide từ các thành phan trong chè dây [2], khả năng giảm tế bao ung thư bach cầu HL-60 trên cơ thể người [7], khả năng kháng khuẩn trên một số loại vi sinh vật thực phẩm [8], đặc biệt tính kháng HP của dịch trích chè dây cũng đã được báo cáo bởi GS.TS Phạm Thanh ky (2001) va Luong Thi My Ngan (2017) cho kết quả về nồng độ ức chế đối (MIC) với HP 0.2 Tổng quan về hợp chất flavonoid 2.1 Định nghĩa flavonoid Flavonoid là nhóm hợp chất tự nhiên thường gặp có trong nguồn gốc thực vat. Năm 1930, một chất mới đã được phân lập từ quả cam. Vào thời gian đó hợp chất này được coi là một loại vitamin mới và được chỉ định là vitamin P.
Sau đó, hợp chất được xác định là một flavonoid và cho đến nay đã có hơn 4000 loại flavonoids đã được xác định. Cau trúc hóa hoc flavonoid được dựa trên một bộ xương 15 carbon bao gồm hai vòng benzen (A và B như trong hình 2.2) liên kết thông qua một vòng pyrane dị vòng (C). Hình 2 3 Cấu trúc cơ bản flavonoid [9] 2.2 Phan loai flavonoid Flavonoid có thé được chia thành các phân nhóm khác nhau tùy thuộc vào carbon của vòng C mà trên đó vòng B được gắn vào và mức độ bão hòa và quá trình oxy hóa của vòng C (Hình 2. Các flavonoid trong đó vòng B được liên kết ở vị trí 3 của vòng C được gọi là isoflavones.
Vòng B được liên kết ở vị trí 4 được gọi là neoflavonoids, trong khi đó vòng B được liên kết ở vị trí 2 có thể được chia nhỏ thành nhiều phân nhóm dựa trên các đặc điểm cấu trúc của vòng C. Các phân nhóm này là: flavon, flavonol, flavanon, flavanonol, flavanol hoặc catechin, anthocyanin và chalcones. OH OH a x Ro ow TẾ | sy tà. ° SS | HO Ay OY 2 ` zY 14 6 6 AOH i 0 ie Ỗ "» 5 L Asgan | FÏaVOnes Luteotin Quercetin Kaempteral HO.
© Ss | ' , {i i \ | OH 9 Ho ` Ho ~~ on OH Genistein Phioretin Isoflavones jap „^⁄ `oH a FA OH 4 Daidzein Chatconaringenin ®~~ OH On L. đi HO7 : HO, Sv es As ons ( bí ce Se neA Ì IL OH r8 ig | oo a OPO Naringenin Flavonols Hesporetin ou ° Delphinidin | Anthocyanins y Cyanidin Hình 2.4:Phdn loại flavonoid [10] 2.3 Dihydromyricetin OH OH Hình 2.5:Công thức cấu tao dihydromyricetin [11] Dihydromyricetin (ampelopsin) là myricetin được no hóa ở liên kết đôi Cy = C3 trong cầu trúc khung flavonol. Công thức cau tạo : 3,5,7.5° — hexahydroxy flavanon, có trọng lượng phân tử 320. Dihydromyricetin dạng tinh thể hình kim màu vàng nhạt, thường tụ lại thành hình chối, nhẹ xOp, nhiệt độ nóng chảy 255 — 257°C, tan it trong nước lạnh, tan tốt trong nước sôi, tan trong ethanol, tan hoàn toàn trong côn nóng và ethylacetat [1 | Dihydromyricetin được biết đến với tên ampelopsin thường gặp trong họ Ampelopsis, đã được nghiên cứu cho thay khả năng ức chế sự phát triển của 14 chủng vi khuẩn, chủ yếu là các chủng Staphylococcus aureus và một số vi khuẩn Bacillus [8],[10].
Dihydromyricetin có khả năng chống oxy mạnh trong ứng dụng bảo quản [11] và được xem là chất chồng oxy hóa trong tự nhiên có hiệu quả cao [12]. Ngoài ra, dihydromyricetin còn có khả năng chống peroxid hóa lipid trên tim, tế bào gan và mô não|l3]. Các nhà nghiên cứu khoa học cũng cho biết rằng dihydromyricetin có thể chống nhiễm HIV-I và chống giảm kháng thể HIV-I P24. Những nghiên cứu này đưa ra hiểu biết mới về tác dụng chữa AIDS của dihydromyricetin băng cách bảo vệ tế bào T của người nhiễm HIV [14] 2.6:Công thức cấu tạo myricetin [17] Myricetin là một flavonol thuộc polyphenol.
Ham lượng cao của myricetin được tìm thay trong vỏ cua nhiều loại trái cây như nho đỏ [15], trong các loại thực phẩm tự nhiên như qua mong, rau, trà, rượu và thảo dược [16]. Câu trúc của myrIcetin tương tự như của quercetin. Sự hydroxyl hóa ở vị trí 5` trong vòng B dẫn đến sự hình thành myricetin từ quercetin[ 15].Theo Phùng Thị Vinh, myricetin có dạng tinh thé hình kim, mau vàng cánh gián, nhiệt độ nóng chảy 312 — 315°C [4] Myricetin có hoạt tính giống như vitamin P [17], hoạt tính này thé hiện ở tác dụng làm bền vững mao mạch, giảm tính giòn của thành mạch. Myricetin có các khả năng chống viêm, chống xơ vữa động mạch và chống huyết khối.
Đặc biệt, các nghiên cứu đã chỉ ra răng myricetin có tác dụng hạ đường huyết ở động vật đái tháo đường[ 1S]. Theo Pablo Strobel và các cộng sự, myricetin, quercetin và catechin gallate ức chế sự hấp thu glucose vào trong tế bào tao mỡ cô lập của chuột [19]. Theo Jheng- Hua Huang và cộng sự, myricetin có tác động đáng kế trong việc bảo vé tế bào bởi tia cực tím — B, giảm sự hư hại đối với keratinocytes [16]. Ngoài ra, myricetin là flavonoid duy nhất đã được phát hiện có tác dụng làm tăng thu giữ và giảm thải iod.
Tac dụng phát tan va tăng thời gian lưu giữ iod cua myricetin có thé có ý nghĩa lâm sang trong điều trị ung thư tuyến giáp bằng iod phóng xạ [20] 2.5 Giá trị sinh học cua flavonoid Kha năng của flavonoid hoạt động như chất chống oxy hóa đã cho chúng một vi trí quan trọng trong lĩnh vực sức khỏe con người và y học. Chế độ ăn nhiều chất flavonoid, trái cây và rau quả được bảo vệ chồng lại nhiều bệnh khác nhau.