ĐẶT VẤN ĐỀ Cho đến nay trên thế giới có khoảng 800 triệu ngƣời mắc bệnh gan do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó viêm gan do virus vẫn là vấn đề đƣợc quan tâm nhất, ghép gan do tác nhân virus vẫn chiếm tỷ lệ cao [24]. Các thuốc tân dƣợc dùng điều trị bệnh viêm gan thƣờng có giá thành cao và nhiều tác dụng không mong muốn. Do đó vấn đề tìm thuốc có nguồn gốc từ dƣợc liệu đang rất đƣợc quan tâm. Nhiều dƣợc liệu đã đƣợc sử dụng trong điều trị viêm gan và bƣớc đầu có hiệu quả tốt, trong đó có Nhân trần tía [30].
Tại Việt Nam, hiện nay việc nghiên cứu các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học ngày càng đƣợc chú trọng và đẩy mạnh. Tuy nhiên, các nghiên cứu trƣớc đây về Nhân trần tía tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đƣợc nghiên cứu chủ yếu về tác dụng dƣợc lý, chƣa có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học, cũng nhƣ hàm lƣợng các hoạt chất có trong cây [19]. Hơn nữa, việc sử dụng Nhân trần tía làm thuốc trong đông y hay các chế phẩm từ toàn cây Nhân trần tía nhƣ viên uống, cao thuốc, các loại trà,… ngày càng trở nên phổ biến nhƣng hầu hết là ở dạng cao toàn phần, dịch chiết toàn phần. Việc xác định thành phần flavonoid chính với hàm lƣợng là bao nhiêu thì vẫn còn đang bỏ ngỏ.
Do đó, việc xây dựng quy trình định lƣợng các flavonoid trong cây Nhân trần tía sẽ là một đóng góp vào dữ liệu khoa học, cũng nhƣ góp phần đảm bảo chất lƣợng dƣợc liệu và các chế phẩm từ Nhân trần tía mang lại hiệu quả điều trị và an toàn trong chăm sóc sức khỏe nhân dân. Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình định lƣợng đồng thời các flavonoid trong cây Nhân trần tía (Adenosma bracteosum Bonati)” Đƣợc thực hiện với các mục tiêu cụ thể: 1. Xây dựng và thẩm định quy trình định lƣợng hai flavonoid isoscutellarein 8-O-β-glucuropyranosid và isoscutellarein 8-O-β-glucopyranosid trong Nhân trần tía bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao với đầu dò dãy diod quang. Ứng dụng quy trình định lƣợng hai flavonoid trong Nhân trần tía đƣợc thu hái từ các tỉnh, ở các thời kỳ sinh trƣởng khác nhau.
2 Ý nghĩa đề tài: Kết quả của đề tài sẽ là một kênh tham khảo dữ liệu giúp bổ sung vào chuyên luận dƣợc liệu cho Dƣợc điển Việt Nam V. Là cơ sở tham khảo về mặt pháp lý cho việc kiểm định nguồn dƣợc liệu nhằm đảm bảo chất lƣợng thuốc, chế phẩm từ Nhân trần tía đến tay ngƣời tiêu dùng an toàn, hiệu quả, góp phần nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ NHÂN TRẦN TÍA 1.
Thực vật học 1. Tên khoa học và phân loại Tên khoa học: Adenosma bracteosum Bonati. Tên khác: Nhân trần Tây Ninh, Nhân trần nhiều lá bắc, Tuyến hƣơng lá hoa, Nhân trần cái. Vị trí phân loại: [9], [43] Giới Thực vật (Plantae) Phân giới Thực vật bậc cao (Cormobionta) Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa môi (Lamiidae) Bộ Hoa mõm sói (Scrophulariales) Họ Hoa m m sói (Scrophulariaceae) Chi Adenosma Loài Nhân trần tía (Adenosma bracteosum Bonati) 1.
Đặc điểm thực vật Nhân trần tía thuộc loại cây thân thảo, cao 30-40 cm. Thân hình trụ, phân cành từ gốc, phần ngọn có 4 cành. Cành mọc tỏa ngang hay đứng thẳng. Lá mọc đối, hình mác thuôn, dài khoảng 2 cm, rộng 7 mm, không cuống, gốc lá gần nhƣ ôm thân, nguyên hoặc có răng cƣa tròn, gân lá r.
Cụm hoa mọc ở đầu cành thành bông dày đặc, dài 1,5-3 cm, tổng bao gồm những lá bắc dạng lá, hình tim, đầu nhọn, mép nguyên, có lông thô; đài có 5 răng không đều, 3 răng ngoài rộng, 2 răng trong hẹp; tràng có ống hình trụ chia 2 môi, môi trên bằng đầu, chia đôi, môi dƣới dài bằng môi trên, chia 3 thùy gần bằng nhau; nhụy có 1 ô; bầu nhẵn. Quả nang, hình trứng thuôn, thắt lại ở đầu, nằm gọn trong đài. Mùa hoa quả: tháng 5-9 [28]. Cây mang hoa 2.
Đặc điểm hình thái của Nhân trần tía (1) (2) Hình 1. Cây mang hoa (1) và hoa tƣơi (2) của Nhân trần tía. Thân (1) và hoa (2) Nhân trần tía phơi khô. Phân bố sinh thái Trong số 3 loài thuộc chi Adenosma R.
đƣợc sử dụng làm thuốc ở Việt Nam, loài Nhân trần tía có phạm vi phân bố hạn chế, chỉ phát hiện thấy ở vài tỉnh phía Nam, nhƣ Tây Ninh, Bình Dƣơng, Vũng Tàu, đảo Phú Quốc và Côn Đảo. Có tài liệu còn ghi nhận ở Kon Tum, Đắc Lắc. Cây cũng phân bố khá phổ biến ở Lào và Campuchia [28]. Nhân trần tía chỉ gặp vào thời gian từ giữa mùa mƣa đến đầu mùa khô hằng năm.
Cây ƣa sáng, ƣa ẩm và có thể chịu đƣợc khô hạn sau khi đã ra hoa, kết quả. Cây thƣờng mọc thành đám có khi tới hàng ngàn mét vuông trên những bãi đất bằng dƣới chân đồi, trong thung lũng hay những đám ruộng cao mới bỏ hoang. Nơi mọc của Nhân trần tía thƣờng là đất cát pha và hơi chua. Ở những nơi đất bị rửa trôi mạnh, nghèo dinh dƣỡng, cây chỉ cao không quá 15 cm đã thấy có hoa quả.
Sau khi quả già, toàn cây tàn lụi. So với các loài Bồ bồ và Nhân trần (mọc ở các tỉnh phía Bắc), Nhân trần tía có vòng đời ngắn hơn, chỉ tồn tại 3,5 – 4 tháng và mức độ khai thác, sử dụng cũng ít hơn [28]. Bộ phận dùng: thân, cành mang lá và hoa đã phơi hay sấy khô của cây Nhân trần tía (Herba Adenosmatis bracteosi). Chế biến: thu hái khi cây đang ra hoa, phơi hoặc sấy ở 40 - 50oC đến khô.
Dƣợc liệu có mùi thơm nồng, vị cay mát và hơi đắng [4]. Thành phần hóa học 1. Tinh dầu Lê Tùng Châu, E. Hetelyi và cộng sự khảo sát Nhân trần tía khi cây đang ra hoa (tháng 11, 12) ở Tây Ninh thì thấy có 0,6% tinh dầu.
Tinh dầu màu vàng nhạt, mùi cay nồng, thoảng mùi ascaridol. Ba thành phần chính trong tinh dầu đƣợc xác định là: carvacrol (27%), carvacrol methyl ester (28%), β-bisabolen (30,4%). Trong đó, carvacrol là chất có tác dụng diệt khuẩn đứng hàng đầu trong những hợp chất tinh dầu [8]. Năm 2005, Lê Thị Minh Thảo đã xác định đƣợc các thành phần trong tinh dầu Nhân trần tía là γ-terpinen, caryophyllen, humulen, carvacrol methyl ester, 6 carvacrol, β-bisabolen.
Hơn nữa, dựa vào phƣơng pháp định tính điểm chỉ bằng GC và HPLC có thể phân biệt đƣợc nguồn gốc Nhân trần tía trong loài [21]. Năm 2013, đã phân lập và xác định cấu trúc carvacrol trong tinh dầu Nhân trần tía. Xác định hàm lƣợng carvacrol trong tinh dầu bằng HPLC, trong đó carvacrol chiếm hàm lƣợng lớn trong tinh dầu Nhân trần tía khoảng 26% [27]. OH Carvacrol β-bisabolen Humulen OH O γ-terpinen Carvacrol methyl ester Thymol Hình 1.
Công thức hóa học một số hợp chất chính trong tinh dầu Nhân trần tía. Flavonoid Năm 1999, Nguyễn Minh Đức và cộng sự đã phân lập đƣợc một hợp chất flavonoid từ Nhân trần tía đƣợc xác định là scutellarein-6-O-glycosid. Đây là quá trình phân lập và xác định scutellarein-6-O-glycosid từ Adenosma bracteosum Bonati đầu tiên tại Việt Nam [14]. Ngoài ra, một số flavonoid từ Nhân trần tía đã đƣợc xác định cấu trúc: HOOC OH O OH O OH HO O OH O O O HO O OH HO O HO COOH O OH Biflavon với cấu trúc Isoscutellarein 8-O-β-D-glucuropyranosid [23] 7 HOOC OH O HO HO O O OH HO OH O Scutellarin [12] 5'' 1'' R1 OH 3'' O 3' OH O 2' 4' OH 4'' R2 2'' 1 8 OH 7 O 2 5' 6' 6 4 3 5 OH O Hợp chất hóa học R1 R2 4′, 5, 7-trihydroxy flavon-8-O-glucuronid-6′′-methyl ester [26] COOCH3 OH Isoscutellarein 8-O-β-glucopyranosid 3′′-methyl ether [1] CH2OH OCH3 Isoscutellarein 8-O-β-glucuropyranosid [10] COOH OH Isoscutellarein 8-O-β-glucopyranosid [11] CH2OH OH 3' 2' 4' OH R1 1 H3CO 8 O 7 2 5' 6' R3 6 4 3 H3CO 5 R2 O Hợp chất hóa học R1 R2 R3 8, 4′-dihydroxy-6, 7, 3′-trimethoxy-flavon [15] OH H OCH3 Cirsilinenol [19] H OH OCH3 5,4′-dihydroxy-6,7,8,3′-tetramethoxy flavon [11] OCH3 OH OCH3 5,4′-dihydroxy-6,7,8,-trimethoxy flavon [11] OCH3 OH H Hình 1.
Công thức hóa học một số flavonoid trong Nhân trần tía 1. Các thành phần khác Ngoài thành phần chính là tinh dầu và flavonoid, Nhân trần tía còn có một số nhóm hợp chất khác là: bracteosid A, bracteosid B và bracteosid C [14]. 8 Năm 2013, đã phân lập đƣợc 2 hợp chất từ Nhân trần tía là stigmasterol và acid betulinic [25]; sitosterol-3-O-β-D glucopyranosid [19]. 24 29 23 20 19 22 26 30 18 19 20 22 29 21 25 13 11 25 26 17 OH 11 17 28 27 28 13 1 1 15 9 9 O 2 14 3 5 27 8 7 HO 3 5 24 23 HO (1) (2) 21 22 24 27 20 18 23 25 H 12 17 26 H 16 19 11 13 H 4' 6' 9 14 HO 5' H 1 15 O 2 10 8 3' H H HO 2' 1' 3 5 7 H 4 6 H O (3) Hình 1.
Công thức hóa học của stigmasterol (1) và acid betulinic (2) và (3) sitosterol-3-O-β-D glucopyranosid. Ngoài ra, trong Nhân trần tía còn có các hợp chất phenol nhƣ piceol [10], acid kojic [17], (2,4'-hydroxybenzyl)-5-hydroxy-6-methylhydroxypyran-4-on [17], acid p-hydroxybenzoic [12], polyphenol, coumarin và saponin. O CH3 O OH O OH OH O OH OH Piceol Acid p-hydroxybenzoic Acid kojic OH O CH2 OH OH OH O (2,4'-hydroxybenzyl)-5-hydroxy-6-methylhydroxypyran-4-on Hình 1. Công thức hóa học của một số hợp chất phenol trong Nhân trần tía.
Tác dụng sinh học 1. Tính chống oxy hóa [16] Năm 2010, nghiên cứu sàng lọc hoạt tính chống oxy hoá của 56 loài dƣợc liệu đƣợc thực hiện. Hoạt tính chống oxy hóa in vitro đƣợc đánh giá bằng các phƣơng pháp: FRAP, đo MDA, sàng lọc khả năng loại gốc tự do DPPH và xác định khả năng ức chế enzym xanthin oxidase. Kết quả hoạt tính chống oxy hóa in vitro của các loại cao chiết Adenosma bracteosum theo từng phƣơng pháp đánh giá đƣợc thể hiện ở bảng 1.
Kết quả hoạt tính chống oxy hóa in vitro của các loại cao chiết Phương pháp Cao diclorometan Cao MeOH Cao nước FRAP (μmol Fe2+/L) 555 ± 5 4333 ± 33 3019 ± 71 MDA (%) 12,89 ± 0,78 80,86 ± 2,06 17,19 ± 3,85 DPPH (%) 26,7 ± 1,42 90,62 ± 0,85 36,93 ± 0,69 Enzym xanthin oxidase (%) 2,35 70,14 26,57 So sánh với các dƣợc liệu khác thì Adenosma bracteosum có các trị số rất cao ở cả bốn phƣơng pháp thử nghiệm. Tác giả kết luận cao chiết Adenosma bracteosum có hoạt tính chống oxy hóa rất mạnh so với 56 loài dƣợc liệu nghiên cứu.