CHƯƠNG I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT I. GIỚI THIỆU VỀ CAO LANH I. Thành phần hóa học và cấu trúc của cao lanh Cao lanh là một loại khoáng sét tự nhiên ngậm nước mà thành phần chính là khoáng vật kaolinit, có cấu trúc 1:1 dạng diocta, chiếm khoảng 85-90% trọng lượng [1], [6], [12], [13], [15]. Công thức hóa học đơn giản là Al 2 O 3 .2H 2 O, công thức lý tưởng là Al 4 (Si 4 O 10)(OH) 8 với hàm lượng SiO 2 = 46,54%; Al2 O3 = 39,5% và H 2 O = 13,96% trọng lượng.
Tuy nhiên, trong thực tế thành phần lý tưởng này thường rất ít gặp [1], [6], [12], [14], vì ngoài ba thành phần chính kể trên, thường xuyên có mặt Fe 2 O 3 , TiO 2, MgO, CaO, K 2 O, Na2 O với hàm lượng nhỏ. Ngoài ra, trong cao lanh nguyên khai còn chứa các khoáng khác như haloysit, phlogopit, hydromica, feldspar, α-quartz, rutil, pyrit. nhưng hàm lượng không lớn. Trong các loại khoáng vật sét thì kaolinit có hàm lượng Al 2 O 3 lớn nhất, thường từ 36,83 ÷ 40,22%; SiO 2 có hàm lượng nhỏ nhất, từ 43,64 ÷ 46,90%; các oxyt khác chiếm từ 0,76 ÷ 3,93%; lượng nước hấp phụ bề mặt và lượng mất khi nung từ 12,79 ÷ 15,37%, đôi khi bằng 10% [6], [13].
Tỷ số mol SiO 2 /R 2 O 3 (R: Al, Fe) thay đổi từ 1,85 ÷ 2,94, trong đó tỷ số SiO 2 /Al 2 O3 thông thường từ 2,1 ÷ 2,4 và cá biệt có thể bằng 1,8 [6], [14]. Cấu trúc tinh thể của kaolinit được hình thành từ một mạng lưới tứ diện silic liên kết với một mạng lưới bát diện nhôm tạo nên một lớp cấu trúc. Chiều dày của lớp này dao động trong khoảng 7,10 ÷ 7,21 Å [6], [14]. Mỗi lớp cấu trúc được phát triển liên tục trong không gian theo hướng trục a và b.
Các lớp cấu trúc được chồng xếp song song với nhau và tự ngắt quãng theo hướng 4 trục c [4] (hình 1. Trong cấu trúc không gian của kaolinit, ở mạng bát diện cứ ba vị trí tâm bát diện thì có hai vị trí bị Al3+ chiếm giữ còn một vị trí bị bỏ trống. Điều đó giúp phân biệt kaolinit thuộc phân nhóm diocta. c = 7,15 Å c a b : Oxy : hydroxyl : Silic : Nhôm Hình 1.
Sơ đồ không gian mạng lưới cấu trúc của kaolinit. Các tứ diện đều quay đỉnh chung về phía mạng bát diện. Ở vị trí đỉnh chung của tứ diện và bát diện thì ion OH - của bát diện được thay bằng ion O 2- của tứ diện. Do có cấu tạo như vậy nên mặt chứa những ion O 2- nằm cạnh mặt chứa những ion OH-.
Giữa hai mặt đó xuất hiện một lực liên kết giữ chặt các lớp lại, chính vì vậy mà mạng tinh thể kaolinit ít di động, hấp phụ ít nước, không trương nở. Các tính chất cơ bản Cũng như các khoáng sét khác, ba tính chất cơ bản của cao lanh thường được đề cập đến là tính chất trao đổi ion, tính chất hấp phụ và tính chất xúc tác. Bề mặt riêng của kaolinit không lớn, thường dao động từ 15 ÷ 20 m2 /g. 5 Điều này đồng nghĩa với khả năng hấp phụ kém của kaolinit.
Do có cấu trúc lớp kiểu 1:1, khả năng trương nở rất kém nên người ta thường không sử dụng kaolinit làm chất xúc tác mà chỉ sử dụng nó với vai trò chất nền. Tính chất cơ bản còn lại của kaolinit là tính chất trao đổi ion. Trong đó, quá trình trao đổi cation vào mạng tinh thể kaolinit thường được quan tâm nhiều hơn do khả năng ứng dụng rộng hơn so với trao đổi anion [6]. Đại lượng đặc trưng cho dung lượng trao đổi được tính bằng mili đương lượng (meq) trên 1 gam hoặc 100g mẫu.