MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, vật liệu điện sắc đã và đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: cửa sổ thông minh tiết kiệm năng lượng cho các tòa nhà, cửa kính máy bay, gương chiếu hậu chống chói cho ô tô, màn hình ti vi tiêu thụ điện năng thấp,. Đặc trưng của vật liệu điện sắc là có khả năng thay đổi màu sắc một cách thuận nghịch dưới tác dụng của điện thế. Vật liệu điện sắc có thể được chia làm ba loại chính là vật liệu điện sắc vô cơ, vật liệu điện sắc hữu cơ và vật liệu điện sắc lai hóa.
Những ưu điểm của tất cả các loại vật liệu này là hiệu quả tạo màu cao, màu sắc đa dạng, độ bền cao, các đặc tính quang học như hấp thụ, phản xạ hoặc truyền qua có thể thực hiện một cách liên tục. Tuy nhiên, nhược điểm của vật liệu điện sắc vô cơ là độ bền và tính linh động thấp [3,5-7], độc tính (do chứa kim loại chuyển tiếp) cao so với vật liệu điện sắc hữu cơ và vật liệu điện sắc lai hóa. Những nhược điểm này đã hạn chế khả năng ứng dụng của vật liệu điện sắc vô cơ, đồng thời mở ra cơ hội mới cho vật liệu điện sắc hữu cơ và vật liệu điện sắc lai hóa. Viologen là họ các phân tử hữu cơ của 4,4’-bipyridyl.
Đặc điểm nổi bật của viologen là có hoạt tính oxi hóa khử mạnh, màu sắc thay đổi rõ rệt theo trạng thái oxi hóa [8]. Những thay đổi về nhóm chức gắn trên phân tử, trạng thái oxi hóa và ion đối (counter ion) cũng có thể làm thay đổi tính chất điện sắc của vật liệu. Các phân tử dibenzyl viologen (DBV) và diethyl viologen (DEV) có thế oxi hóa khử khá thấp, các trạng thái oxi hóa có độ ổn định cao và màu sắc rõ ràng. Tuy nhiên, những nghiên cứu liên quan đến các phân tử này còn hạn chế.
e 2 Xuất phát từ những cơ sở khoa học trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tổng hợp các hệ vật liệu điện sắc của viologen định hƣớng ứng dụng trong lĩnh vực quang điện tử”. Mục đích nghiên cứu Tổng hợp các hệ vật liệu điện sắc một cấu tử DBV, DEV và các hệ vật liệu điện sắc hỗn hợp DBV và DEV trên nền ITO nhằm định hướng ứng dụng trong lĩnh vực quang điện tử. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tƣợng nghiên cứu - Các hệ vật liệu điện sắc một cấu tử gồm DBV và DEV - Các hệ vật liệu điện sắc hỗn hợp hai cấu tử viologen: DBV và DEV 3.
Phạm vi nghiên cứu Tính chất điện hóa và tính chất quang của các hệ vật liệu ở quy mô phòng thí nghiệm. Phƣơng pháp nghiên cứu 4. Phƣơng pháp tổng hợp vật liệu: Các hệ vật liệu được tổng hợp bằng các phương pháp điện hóa như phương pháp quét thế vòng tuần hoàn (CV) hoặc phương pháp đo dòng - thời gian (CA). Quá trình này được thực hiện trong hệ điện hóa gồm 3 điện cực nhúng trong dung dịch điện phân: - Điện cực làm việc là ITO.
- Điện cực Ag/AgCl (CKCl = 3 M) được sử dụng làm điện cực so sánh. - Điện cực đối là Pt. Phƣơng pháp đặc trƣng vật liệu: Tính chất điện hóa của các hệ vật liệu được nghiên cứu bằng phương pháp CV. e 3 Đặc tính điện sắc của các hệ vật liệu được khảo sát bằng phương pháp CA và phổ UV-Vis.
nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung sự hiểu biết về đặc tính quang điện hóa của các loại vật liệu điện sắc trên cơ sở viologen cũng như tiềm năng ứng dụng của chúng trong lĩnh vực quang điện. e 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Điện hóa học tại bề mặt phân cách rắn/lỏng 1. Nhiệt động học điện hóa Khi 2 pha khác nhau tiếp xúc nhau thì xuất hiện bề mặt phân pha giữa chúng và có sự phân bố lại điện tích giữa các pha.
Từ đó, tạo nên lớp điện kép trên bề mặt phân pha và xuất hiện bước nhảy thế giữa các pha. Ở trường hợp đơn giản nhất, lớp điện kép được hình thành giữa bề mặt rắn tích điện và các ion mang điện tích trái dấu của dung dịch điện phân tại bề mặt phân cách rắn/lỏng [9] 1.Các mô hình của mặt phân cách rắn/lỏng a/ Mô hình Helmholtz Năm 1879, Helmholtz đã đề xuất mô hình đầu tiên về cấu trúc lớp điện kép. Theo Helmholtz, lớp điện kép sẽ tồn tại trên bề mặt giới hạn pha của chất dẫn điện loại 1 và loại 2 khi không có hiện tượng hấp phụ đặc biệt. Trong trường hợp đơn giản nhất, lớp điện kép được xem như tụ điện phẳng gồm hai điện cực trái dấu, một bản là bề mặt kim loại có tích điện, bản còn lại là các ion tích điện ngược dấu nằm sát bề mặt kim loại, khoảng cách giữa hai lớp này có kích thước nguyên tử (Hình 1.
Sơ đồ cấu tạo lớp điện kép kiểu Helmholtz e 5 Bước nhảy thế trong lớp kép là một hàm tuyến tính theo độ dày của lớp kép, tính theo khoảng cách từ bản ion trong dung dịch theo phương thẳng góc đến bề mặt kim loại (Hình 1. Biến thiên bƣớc nhảy điện thế theo khoảng cách đến điện cực Trong phép gần đúng, mô hình Helmholtz được áp dụng đúng cho hệ điện hóa gồm kim loại và dung dịch muối của kim loại đó có nồng độ tương đối đậm đặc. Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là còn hạn chế khi áp dụng cho dung dịch loãng, không giải thích được sự thay đổi của điện dung theo thế điện cực và nồng độ dung dịch, không chú ý đến chuyển động nhiệt của các ion - yếu tố gây ra sự hòa tan của lớp điện kép [11]. b/ Mô hình lớp điện kép của Gouy- Chapman Vào những năm 1910 – 1913, theo Gouy và Chapman, các ion có chuyển động nhiệt tự do và các ion cùng dấu sẽ đẩy nhau nên cấu tạo điện tích ở dung dịch không dày đặc như ở lớp điện tích Helmholtz mà có cấu tạo khuếch tán.
Từ đó, Gouy và Chapman đã đưa ra mô hình lớp điện kép khuếch tán. Gouy cho rằng điện thế tại bề mặt tích điện là do sự có mặt của một số ion cùng dấu với bề mặt của nó và một số lượng bằng nhau của các ion mang điện tích trái dấu trong dung dịch. Mật độ điện tích của ion trái dấu với điện cực phân bố trong lớp khuếch tán nhiều hơn bên ngoài lớp khuếch tán. Mật độ e 6 ion cùng dấu với điện cực thấp hơn bên ngoài lớp khuếch tán.
Điện thế trong lớp khuếch tán thay đổi theo hàm số mũ. Mô hình Gouy và Chapman cho thấy điện dung của lớp kép phụ thuộc vào nồng độ chất điện giải và điện thế điện cực. Đó là điều mà mô hình Helmholtz không giải thích được. Tuy nhiên, điều hạn chế của mô hình này là xem ion như những điện tích điểm, không xem xét sự hấp phụ của các ion nên không xác định được khoảng cách gần nhất giữa ion và điện cực [12] c/ Mô hình Stern Mô hình Stern là mô hình đúng nhất về lớp điện kép, là sự kết hợp của mô hình Helmholtz và Gouy – Chapman [12], tức là lớp kép bao gồm 2 lớp (Hình 1.3a): - Lớp Helmholtz (lớp Helmholtz trong): Lớp dày đặc nằm giữa mặt phẳng điện cực và mặt phẳng tiếp cận cực đại (được kí hiệu là (*) trên hình 1.
- Lớp khuếch tán (Lớp Helmholtz ngoài): Lớp khuếch tán trải rộng từ mặt phẳng tiếp cận cực đại vào sâu trong dung dịch (được kí hiệu (**) trên hình 1. Mô hình Stern (Nguồn ảnh: New Mexico State University) e 7 Điểm quan trọng mà Stern đưa ra: Vị trí của lớp Helmholtz sẽ thay đổi tùy vào kiểu tiếp cận của các ion trên bề mặt điện cực, cụ thể những ion có khả năng tách lớp vỏ sovate thì có thể tiến đến “rất gần” bề mặt điện cực, nhưng cũng có những ion không tách lớp sovate nên khoảng cách thực sự giữa ion và bề mặt điện cực là kích thước của lớp sovate. Nghiên cứu cấu trúc lớp điện kép mang đến các ý nghĩa khoa học rất lớn, tuy nhiên việc nghiên cứu lớp điện kép rất phức tạp nên vẫn còn những hạn chế nhất định. Quá trình hấp phụ của các chất hữu cơ trên bề mặt Quá trình hấp phụ là sự tích lũy các chất trên bề mặt phân cách của các pha (khí-rắn, lỏng- rắn, khí-lỏng, lỏng-lỏng).
Quá trình hấp phụ vật lý của các phân tử hữu cơ trên tại bề mặt phân cách rắn – lỏng được gây ra bởi các tương tác như Vander Waals, lực khuếch tán, lực tương tác tĩnh điện.giữa chất hấp phụ và bề mặt rắn, còn quá trình hấp phụ hóa học là do sự tạo thành liên kết hóa học giữa chúng (liên kết ion, liên kết cộng hóa trị…) Các anion vô cơ ( Cl-, Br-, I-, SO42-,. ) thường tách lớp vỏ solvat và hấp phụ trực tiếp lên bề mặt điện cực. Đây là quá trình hấp phụ đặc trưng, tức là cấu trúc pha hấp phụ phụ thuộc vào tính định hướng của bề mặt điện cực rắn. Trong nhiều trường hợp, sự hấp phụ đặc trưng của các anion dẫn đến sự hình thành các màng đơn lớp có cấu trúc xác định trên bề mặt điện cực (Hình 1.
Sự hấp phụ đặc trƣng của anion trên bề mặt điện cực Lớp hấp phụ đặc trưng có thể hoạt động như lớp đệm đối với sự hấp phụ/tự sắp xếp của các phân tử hữu cơ trên bề mặt rắn (Hình 1. Mô hình tự sắp xếp của các phân tử hữu cơ trên lớp anion e 9 1. Động học điện hóa Khi cho dòng điện đi qua ranh giới điện cực - dung dịch, trên ranh giới này sẽ xảy ra các phản ứng điện cực và làm cho thế điện cực lệch khỏi giá trị thế cân bằng khi có dòng điện ngoài đi qua. Trên điện cực xảy ra phản ứng điện hóa Mz+.mH2O + ze M + mH2O Một quá trình điện cực gồm nhiều giai đoạn nối tiếp nhau: 1.
Vận chuyển ion từ trong lòng dung dịch tới mặt ngoài của lớp điện kép [Mz+.mH2O]dung dịch [Mz+ .mH2O]lớp kép Quá trình chuyển chất này xảy ra chủ yếu là do sự khuếch tán từ nơi có nồng độ cao (trong lòng dung dịch) đến nơi có nồng độ thấp (trên bề mặt điện cực). Ở mặt ngoài của lớp điện kép, các ion sẽ tham gia vào bản dung dịch (mặt Helmholtz ngoài) của lớp điện kép, nằm cách bề mặt điện cực 1 khoảng bằng bán kính ion. Giai đoạn phản ứng điện hóa thuần túy. Các ion tham gia vào lớp Helmholtz bị mất lớp vỏ sonvat hóa, bị thay đổi điện tích.