Luận án tiến sĩ nghiên cứu hình thái tổn thương và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị túi phình động mạch não

Luận án tiến sĩ phân tích hình thái tổn thương và đánh giá hiệu quả phẫu thuật điều trị túi phình động mạch não, cung cấp kiến thức chuyên sâu.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

170
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình nghiên cứu túi phình động mạch não

1.2. Các nghiên cứu trên thế giới

1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.4. Đặc điểm hình thái túi phình động mạch não và ứng dụng điều trị phẫu thuật

1.4.1. Đặc điểm túi phình hệ tuần hoàn trước

1.4.2. Đặc điểm túi phình hệ tuần hoàn sau

1.4.3. Đặc điểm hình dạng túi phình

1.4.4. Một số đặc điểm sinh lý bệnh túi phình động mạch não vỡ

1.4.5. Tăng áp lực nội sọ và giảm áp lực tưới máu não

1.4.6. Co thắt mạch máu não

1.4.7. Các biến chứng toàn thân

1.4.8. Lâm sàng túi phình động mạch não

1.4.8.1. Lâm sàng phình động mạch não chưa vỡ
1.4.8.2. Lâm sàng phình động mạch não vỡ

1.4.9. Chẩn đoán hình ảnh túi phình động mạch não

1.4.9.1. Chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang
1.4.9.2. Chụp cắt lớp vi tính mạch máu não
1.4.9.3. Chụp cộng hưởng từ và cộng hưởng từ mạch máu não
1.4.9.4. Chụp động mạch não số hóa xóa nền

1.4.10. Điều trị túi phình động mạch não

1.4.10.1. Điều trị túi phình động mạch não chưa vỡ
1.4.10.2. Điều trị can thiệp nội mạch
1.4.10.3. Điều trị vi phẫu thuật túi phình động mạch não

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Công thức tính cỡ mẫu

2.4.2. Các bước nghiên cứu

2.4.2.1. Trên nhóm bệnh nhân hồi cứu
2.4.2.2. Trên nhóm bệnh nhân tiến cứu

2.4.3. Nội dung nghiên cứu

2.4.3.1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng
2.4.3.2. Nghiên cứu đặc điểm hình thái túi phình
2.4.3.3. Nghiên cứu điều trị vi phẫu túi phình động mạch não
2.4.3.4. Đánh giá kết quả lâm sàng điều trị vi phẫu thuật
2.4.3.5. Đánh giá kết quả chẩn đoán hình ảnh sau phẫu thuật
2.4.3.6. Xác định mối liên quan giữa kết quả điều trị với các yếu tố

2.4.4. Phương pháp xử lý số liệu

2.4.5. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm hình thái túi phình trên hình ảnh học

3.2.1. Hình thái túi phình trên hình ảnh cắt lớp vi tính

3.2.2. Hình thái túi phình trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính mạch máu não

3.2.3. Hình thái túi phình trên hình ảnh chụp động mạch số hóa xóa nền

3.3. Đặc điểm túi phình trong quá trình phẫu thuật

3.4. Kết quả điều trị phẫu thuật

3.4.1. Một số đặc điểm trong quá trình phẫu thuật túi phình

3.4.2. Chụp cắt lớp vi tính và chụp mạch não số hóa xóa nền sau phẫu thuật

3.4.3. Kết quả phẫu thuật

3.4.4. Theo dõi kết quả xa

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Một số đặc điểm lâm sàng

4.1.1. Đặc điểm tuổi, giới, tiền sử bệnh nhân

4.1.2. Triệu chứng lâm sàng túi phình động mạch não chưa vỡ

4.2. Đặc điểm hình thái túi phình

4.2.1. Hình thái túi phình trên hình ảnh cắt lớp vi tính

4.2.2. Hình thái túi phình trên chụp cắt lớp vi tính mạch máu não

4.2.3. Hình thái túi phình trên chụp động mạch số hóa xóa nền

4.2.4. So sánh sự phù hợp về đặc điểm túi phình giữa chụp cắt lớp vi tính mạch máu và chụp động mạch số hóa xóa nền

4.3. Điều trị vi phẫu túi phình động mạch não

4.3.1. Phương pháp phẫu thuật túi phình

4.3.2. Một số các thủ thuật

4.3.3. Tai biến và khó khăn trong phẫu thuật

4.3.4. Biến chứng sau phẫu thuật

4.4. Kết quả gần (khi ra viện)

4.4.1. Đánh giá kết quả phẫu thuật khi ra viện theo thang điểm Glasgow

4.4.2. Đánh giá kết quả ra viện bằng thang điểm mRankin

4.4.3. Kết quả chụp chụp động mạch số hóa xóa nền sau phẫu thuật

4.5. Kết quả xa

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tổn thương động mạch não

Túi phình động mạch não (tổn thương động mạch não) là một trong những bệnh lý nghiêm trọng, có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như đột quỵ. Theo các nghiên cứu, tỷ lệ túi phình động mạch não trong dân số dao động từ 0,2% đến 7,9%. Biến chứng vỡ túi phình là nguyên nhân chính gây tử vong, với tỷ lệ tử vong lên đến 60,2% trong vòng ba tháng sau khi vỡ. Các yếu tố nguy cơ bao gồm hút thuốc, uống rượu, và di truyền. Việc nhận diện và điều trị kịp thời là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ tử vong và biến chứng. Các phương pháp điều trị hiện nay bao gồm phẫu thuật vi phẫu và can thiệp nội mạch, mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng.

1.1. Đặc điểm hình thái túi phình

Hình thái của túi phình động mạch não có thể được phân loại dựa trên vị trí và kích thước. Túi phình thường gặp ở động mạch cảnh trong và động mạch thông trước. Đặc điểm hình thái này có ảnh hưởng lớn đến phương pháp điều trị và tiên lượng sau phẫu thuật. Việc sử dụng các kỹ thuật hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp động mạch số hóa xóa nền (DSA) giúp xác định chính xác hình thái và vị trí của túi phình, từ đó hỗ trợ cho phẫu thuật viên trong quá trình điều trị.

II. Phẫu thuật điều trị túi phình động mạch não

Phẫu thuật điều trị túi phình động mạch não là một trong những phương pháp chính để ngăn ngừa biến chứng vỡ. Phẫu thuật viên thường sử dụng kỹ thuật kẹp cổ túi phình để ngăn chặn dòng máu vào túi phình. Tuy nhiên, việc thực hiện phẫu thuật này không hề đơn giản, đặc biệt là với những túi phình lớn hoặc ở vị trí sâu. Tỷ lệ tai biến trong phẫu thuật có thể liên quan chặt chẽ đến hình thái của túi phình. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng về hình thái, kích thước và vị trí của túi phình là rất cần thiết để đưa ra chiến lược điều trị phù hợp.

2.1. Kết quả phẫu thuật

Kết quả phẫu thuật điều trị túi phình động mạch não thường được đánh giá qua các thang điểm như Glasgow và mRankin. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công của phẫu thuật có thể đạt đến 87,5%, với tỷ lệ biến chứng thấp. Tuy nhiên, việc theo dõi sau phẫu thuật là rất quan trọng để phát hiện sớm các biến chứng có thể xảy ra. Các yếu tố như tuổi tác, giới tính và tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật.

III. Biến chứng và điều trị sau phẫu thuật

Biến chứng sau phẫu thuật túi phình động mạch não có thể bao gồm chảy máu thứ phát, co thắt mạch máu và tổn thương thần kinh. Việc theo dõi chặt chẽ sau phẫu thuật là cần thiết để phát hiện và xử lý kịp thời các biến chứng này. Các phương pháp điều trị hỗ trợ như điều trị nội khoa và phục hồi chức năng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân sau phẫu thuật. Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các biện pháp điều trị kịp thời có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.

3.1. Theo dõi và đánh giá sau phẫu thuật

Theo dõi sau phẫu thuật bao gồm việc đánh giá tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và thực hiện các xét nghiệm hình ảnh để phát hiện sớm các biến chứng. Việc sử dụng thang điểm Glasgow và mRankin giúp đánh giá mức độ hồi phục của bệnh nhân. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc theo dõi định kỳ có thể giúp phát hiện sớm các vấn đề và can thiệp kịp thời, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu túi phình động mạch não 1. Các nghiên cứu trên thế giới Túi phình động mạch não (ĐMN) được miêu tả đầu tiên vào đầu thế kỷ 18 và chảy máu khoang dưới nhện (KDN) chủ yếu do túi phình vỡ gây ra [5]. Phương pháp chụp ĐMN ra đời năm 1927, là một tiến bộ lớn trong chẩn đoán bệnh lý mạch máu não [8].

công bố trường hợp phẫu thuật thành công đầu tiên điều trị phình ĐMN bằng kẹp cổ túi phình [9]. phát minh ra chụp ĐMN qua ống thông và được áp dụng rộng rãi đến ngày nay [10]. Từ những năm 60, phương pháp chụp ĐMN số hóa xóa nền ra đời và phát triển. Những năm đầu thập niên 70 thế kỷ 20, Hounsfield đã phát minh ra chụp cắt lớp vi tính (CLVT) cho phép chẩn đoán chảy máu khoang dưới nhện nhanh chóng, chính xác và an toàn.

Từ đó đến nay có nhiều thế hệ clip được thiết kế với hình dáng, kích thước, chất liệu khác nhau. Những năm 70 của thế kỷ XX, phương pháp vi phẫu thuật được phát triển và đã có những kết quả ngoạn mục. Một trong những tác giả có báo cáo đầu tiên về vi phẫu thuật phình ĐMN là Pool J. và cs là những phẫu thuật viên người Úc đã lần đầu tiên thông báo sử dụng nội soi ống mềm hỗ trợ kẹp clip túi phình mạch máu não cho 24 BN với 30 túi phình ĐMN với kết quả tốt 58,3%; khá 33,3%; luan an 4 trung bình 4% và tử vong 1 BN (4%) [12].

Từ đó đến nay trên thế giới đã có nhiều báo cáo về vấn đề này. và cs (2005) trong một nghiên cứu ứng dụng của indocyanine green (ICG) trong 20 trường hợp đã phát hiện 1 trường hợp clip kẹp cả động mạch xiên cạnh túi phình và 1 trường hợp túi phình tồn dư, các lỗi kỹ thuật này đã được xử lý sau 2 phút. Kỹ thuật này cho hình ảnh tuyệt vời, rõ nét, các quan sát trong mổ phù hợp với kiểm tra sau mổ bằng chụp động mạch số hóa xóa nền (DSA) [13]. Tỷ lệ hẹp, tắc động mạch mang túi phình và kẹp túi phình không hoàn toàn liên quan chặt chẽ tới kích thước túi phình, thường gặp ở túi phình động mạch thông trước và động mạch cảnh trong [14].

và cs báo cáo kinh nghiệm 10 năm sử dụng đường mở sọ lỗ khóa trên ổ mắt trong phẫu thuật phình ĐMN và các thương tổn khác ở nền sọ. Kích thước nắp sọ trung bình các tác giả thực hiện là 2,5x1,5cm [15]. nút mạch phình ĐMN bằng bóng vào năm 1970 [17]., bác sĩ phẫu thuật thần kinh người Ý lần đầu tiên phát minh ra phương pháp dùng vòng xoắn kim loại (coil) gắn với dây đẩy đưa qua một ống thông siêu nhỏ (microcatheter) vào trong lòng túi phình. Sau đó được cắt rời bằng dòng điện một chiều, làm đông máu trong túi phình loại bỏ phình mạch ra khỏi hệ thống mạch não mà vẫn bảo tồn động mạch mang gọi là phương pháp vòng xoắn kim loại cắt rời (GDC) [18].

luan an 5 Năm 1997, Moret J. mô tả kỹ thuật dùng bóng bảo vệ chẹn ngang qua cổ túi phình đề giữ ổn định vòng xoắn kim loại áp dụng với các túi phình cổ rộng [19]. và cs sử dụng giá đỡ nội mạch (stent) đặt trong lòng mạch mang đi qua túi phình nhằm thay đổi hường dòng chảy, áp dụng cho các túi phình cổ rất rộng, túi phình hình thoi. Qua đó lấp tắc phình mạch bằng vòng xoắn kim loại [20].

Tình hình nghiên cứu trong nước Phẫu thuật điều trị túi phình ĐMN đầu tiên được báo cáo bởi Nguyễn Thường Xuân và cs năm 1962. Tiếp đó có các báo cáo nhân một vài trường hợp tại các trung tâm phẫu thuật thần kinh: Phạm Hòa Bình và cs (1997) 7 trường hợp, Nguyễn Thế Hào và cs (2001) 14 trường hợp (trích Nguyễn Sơn [4]). Năm 2002, Võ Văn Nho và cs báo cáo vi phẫu thuật 41 trường hợp phình ĐMN bằng clip Sugita (trích Vũ Minh Hải [21]). Năm 2006, Nguyễn Thế Hào đã thực hiện đề tài tiến sĩ đầu tiên “Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị phẫu thuật chảy máu dưới màng nhện do vỡ túi phình hệ động mạch cảnh trong” [22].

Năm 2010, Nguyễn Sơn thực hiện đề tài tiến sĩ “Nghiên cứu lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và điều trị vi phẫu thuật kẹp clip cổ túi phình động mạch não trên lều đã vỡ” [4]. Năm 2012, Nguyễn Minh Anh thực hiện đề tài: “Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị túi phình động mạch cảnh trong đoạn cạnh mấu giường trước bằng vi phẫu thuật” [23]. Năm 2014, Vũ Minh Hải nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị phẫu thuật túi phình động mạch não vỡ” [21]. Nguyễn Thế Hào và cs (2015) đã công bố nghiên cứu “ Kết quả điều trị phình động mạch não bằng phẫu thuật ít xâm lấn tại Bệnh viện Bạch Mai” luan an 6 gồm 48 BN với kết quả tốt 87,5%, không có túi phình tồn dư, tổn thương thần kinh trên ổ mắt 10,3%, cơ vòng mi 7,7%, cơ thái dương 5,1%, về thẩm mỹ BN hài lòng hoàn toàn 76,9% [24].

Điều trị can thiệp nội mạch phình ĐMN tại Việt Nam được thực hiện từ năm 2001 bởi tác giả Nguyễn Minh Thông và cs với kết quả tốt là 92,8%. Năm 2004, Lê Văn Trường báo cáo can thiệp nội mạch cho 10 trường hợp với kết quả 8 trường hợp hồi phục hoàn toàn, 1 trường hợp còn di chứng, 1 trường hợp tử vong. Phạm Đình Đài (2011) đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị sau can thiệp nội mạch ở BN đột quỵ chảy máu do vỡ phình mạch não” (trích [25]). Đặc điểm hình thái túi phình động mạch não và ứng dụng điều trị phẫu thuật 1.

Đặc điểm túi phình hệ tuần hoàn trước Hệ tuần hoàn trước bao gồm động mạch cảnh trong và các nhánh của chúng. Động mạch cảnh trong đi vào trong sọ qua màng cứng của trần xoang hang dọc theo phía trong của mỏm yên trước, dưới thần kinh thị. Động mạch chạy ra sau lên trên đến ngoài giao thoa thị và kết thúc ở chỗ phân chia ĐMN giữa và ĐMN trước. Các nhánh bên của động mạch cảnh trong gồm: động mạch mắt, động mạch trên yên, động mạch thông sau và động mạch mạch mạc trước.

Túi phình tuần hoàn trước chiếm tỷ lệ 85-95%, động mạch thông trước 30%, thông sau 25%, ĐMN giữa 20% [1]. Phình động mạch cảnh trong xoang hang Các phình mạch này bắt nguồn từ xoang hang và mở rộng vào vùng dưới nhện, tiềm ẩn nguy cơ xuất huyết dưới nhện, thậm chí cả khi gốc của phình mạch rõ ràng ở ngoài màng cứng. Thiểu năng thị giác hoặc liệt các dây thần kinh sọ não là các triệu chứng thường gặp do xoang hang chứa các dây thần kinh sọ III, IV, V và VI. Đau sau nhãn cầu do nghẽn tĩnh mạch và hạn luan an 7 chế tầm nhìn do chèn ép dây thị giác hoặc giao thoa thị giác cũng có thể xảy ra.

Nếu túi phình động mạch vỡ, thường sẽ gây ra rò động mạch cảnh–xoang hang chứ hiếm khi chảy máu vào khoang dưới màng nhện. Phình động mạch cạnh mỏm yên trước Đây là đoạn ngắn nhất của động mạch cảnh trong, động mạch uốn cong vòng lên trên vừa ra khỏi xoang hang để đi vào màng cứng. Động mạch liên quan chặt chẽ với mỏm yên trước, động mạch nằm ở dưới và trong so với mỏm yên trước. Màng cứng sàn sọ đi đến mỏm yên trước và phủ lên trên sau đó tiếp tục đi xuống mặt dưới ôm xung quanh động mạch cảnh tạo nên vòng màng cứng xa, được ví như động mạch cảnh chọc thủng màng cứng tạo nên vòng màng cứng xa.

Bao gồm: phình động mạch mắt, phình động mạch yên trên. * Phình động mạch đoạn động mạch mắt Động mạch mắt phát sinh khi động mạch cảnh trong đến cạnh trong của mỏm yên trước, đi vào ổ mắt qua lỗ thị, phía dưới ngoài của thần kinh thị. Động mạch đi qua phía trên thần kinh đến thành trong ổ mắt, đi về phía trước dưới cơ chéo trên chia làm 2 nhánh tận, nhánh trán và nhánh mũ lưng. Khi bắt chéo qua thần kinh thị, động mạch đi tùy hành với thần kinh mũi mi và ngăn cách với thần kinh trán bởi cơ thẳng trên và cơ nâng mi trên.

Theo Lê Văn Cường (2012) [26], các nhánh bên của động mạch mắt chia làm 2 nhóm: + Nhóm ổ mắt: phân nhánh vào ổ mắt và các phần kế cận, gồm có nhánh lệ, trên ổ mắt, sàng sau, sàng trước, mi trong, trán, mũi lưng. + Nhóm nhãn cầu: đến nhãn cầu và các cơ của mắt, gồm động mạch trung tâm võng mạc, mi sau ngắn, mi sau dài, mi trước, nhánh cơ. Túi phình phát triển từ phần giữa và giữa trên của động mạch cảnh tiếp giáp với đoạn mỏm yên trước hoặc tại gốc động mạch mắt. Các túi phình liên quan đến động mạch mắt và gọi là túi phình động mạch mắt.

Pool và Potts (1965) báo cáo túi phình động mạch mắt chiếm 1,3% túi phình nội sọ, trong luan an 8 khi đó Locksley (1966) và Iwabuchi (1978) cho rằng tỷ lệ này lần lượt là 5,4% và 3,8% [27]. Hình ảnh túi phình động mạch mắt *Nguồn: Rhoton L. (2002) [28] Túi phình cũng có thể phát triển về phía xoang hang, một phần do động mạch mắt tách ra rất gần, cũng có trường hợp cách 1-2 mm, rất khó khăn cho việc bộc lộ cổ túi phình cũng như khi cần thiết phải kẹp clip tạm. Mỏm yên trước và xoang hang cũng gây khó khăn cho phẫu thuật túi phình ở vị trí này.

Hình dạng và chiều dài mỏm yên trước che khuất cổ túi phình. Mỏm yên trước và ống thị thường phải cắt đi để mở rộng phẫu trường. * Phình động mạch yên trên Động mạch yên trên tách ra từ động mạch cảnh trong gần với vị trí của động mạch mắt, cung cấp máu cho phần trên tuyến yên và cuống tuyến yên. Túi phình ở vị trí này thường nằm ở mặt sau giữa của động mạch cảnh trong và mặt ngoài của hố yên.

Sự phát triển của túi phình được quyết định bởi tường bên và sau hố yên. Túi phình thường phát triển theo hai hướng: lên trên tuyến yên và vào mỏm yên trước. Sự phát triển của túi phình gây ra chèn ép cuống tuyến yên và giao thoa thị giác. Do đặc điểm giải phẫu nên phẫu thuật túi phình vị trí này không khác nhiều với túi phình động mạch mắt.

luan an 9 Hình 1. Hình ảnh túi phình động mạch yên trên *Nguồn: Rhoton L. Phình động mạch thông sau Động mạch thông sau xuất phát từ động mạch cảnh trong trước khi động mạch này chia thành ĐMN trước và não giữa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu hình thái tổn thương và đánh giá hiệu quả phẫu thuật túi phình động mạch não" của tác giả Nguyễn Thành Bắc, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Thế Hào tại Học viện Quân y, tập trung vào việc phân tích các tổn thương liên quan đến túi phình động mạch não và đánh giá kết quả của các phương pháp phẫu thuật điều trị. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hình thái tổn thương mà còn giúp cải thiện quy trình điều trị, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực y học và phẫu thuật, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh u não tế bào thần kinh đệm ác tính", nơi cung cấp thông tin về các phương pháp chẩn đoán hình ảnh trong điều trị u não, hay "Nghiên cứu chỉ số tương hợp tâm thất động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát", nghiên cứu về mối liên hệ giữa huyết áp và các chỉ số tim mạch, và cuối cùng là "Luận án tiến sĩ y học: Nghiên cứu điều trị bảo tồn ung thư nguyên bào võng mạc bằng laser diode", cung cấp cái nhìn về các phương pháp điều trị hiện đại trong y học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến phẫu thuật và điều trị trong lĩnh vực y tế.