Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VÈ QUẢN LÍ RỪNG TRONG Bộ LUẬT HÌNH sự 1. SỤ CÀN THIẾT QUY ĐỊNH TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VÈ QUẢN LÝ RỪNG TRONG PHÁP LUẬT HÌNH sụ VIỆT NAM Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á, với diện tích 330.991,5 km 2, khí hậu nhiệt đới gió mùa, cây cối quanh năm xanh tốt. Việt Nam có thế mạnh về phát triển nông nghiệp, có diện tích rừng và đất rừng chiếm khoảng (30%) diện tích lãnh thổ. Rừng là nguồn tài nguyên to lớn, là nguồn thu lợi lớn cho nền kinh tế quốc dân.
Rừng không những có giá trị kinh tế mà rừng còn có vai trò quan trọng trong quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, rừng đã tạo ra sự ổn định và cân bằng về môi truờng sinh thái, hạn chế các tác hại của lũ lụt, mua gió, hạn hán, phục vụ đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, du lịch của nhân dân. Rừng là nguồn tài nguyên quý giá, có giá trị kinh tế lớn nên rừng đã trở thành đối tượng, mục tiêu khai thác của nhiều cá nhân, tổ chức với mục đích vụ lợi. Rừng là hợp phần quan trọng tạo nên sinh quyến, chứa đựng tài nguyên động thực vật phong phú.
Là nhà che chở cho loài động vật, là "lá phôi" của sự sống. Nói chung rừng là một hệ sinh thái lớn, quan trọng, có đa dạng sinh học 12 cao có ý nghĩa phát triển kinh tế xã hội. Rừng giữ vai trò điều hòa khí hậu, bảo vệ sự sống. Rừng cây xanh bạt ngàn là lá phổi khồng lồ thanh lọc không khí, cung cấp nguồn dưỡng khí duy trì sự sống cho con người.
Rừng giúp con người hạn chế thiên tai. Đặc biệt, rừng là khu bảo tồn thiên nhiên vô giá với hàng ngàn loài chim, loài thú quí giá, là nguồn đề tài nghiên cứu bất tận cho các nhà sinh vật học. Đối với dân tộc Việt Nam, rừng còn gắn chặt với từng chặng đường lịch sử. Trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, rừng trở thành căn cứ cách mạng: "Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù".
Trong thời bình, rừng là nơi nghỉ ngơi, an dưỡng, là điểm tham quan du lịch của mọi người. Ngày nay, với khoa học kĩ thuật tiên tiến, hiện đại, con người đã chế ra nhiều nguyên liệu tống hợp từ các sản phẩm hóa học, nhưng vẫn không thể thay thế được vai trò của gỗ trong đời sống. Tre, nứa, trúc, mai, vầu. cùng với gỗ là nguyên liệu chính đế sản xuất giấy và hàng ngàn vật dụng quan trọng khác.
Rừng còn cung cấp cho ta những sản vật quí hiếm. Nhiều loại cây cỏ của rừng là những vị thuốc đem lại sức khỏe và sự sống cho con người. Rừng đem lại nhiều lợi ích như thế nên con người ra sức khai thác nguồn lợi quí giá từ rừng. Bọn lâm tặc săn lùng gỗ quí khắp nơi.
Muốn lấy một cây gỗ quí, chúng chẳng ngại phá hại hàng trăm cây cối to nhỏ xung quanh.Việc đốt rừng làm rẫy đã thu hẹp rất nhiều diện tích rừng. Nguy hại nhất là việc làm đó đã phá hủy vành đai rừng phòng hộ, dẫn đến hiểm họa sạt núi, lở đất và những cơn lũ lớn không thể nào ngăn chặn được sẽ gây hậu quả ghê gớm. Khai thác rừng để phục vụ cuộc sống con người là việc làm cần thiết, nhưng muốn hưởng lợi ích lâu dài thì con người cần phải biết bảo vệ rừng. Cùng với việc chặt cây lấy gỗ, chúng ta phải biết trồng cây, gây rừng.
Khai thác lâm sản cũng phải có kế hoạch, có mức độ, nếu không, chăng mấy chốc mà tài nguyên rừng cạn kiệt. Khi đó, thử hỏi con người lấy gì đe chống đỡ với gió, cát, nước lũ. và lấy đâu ra rừng vàng, biến bạc cho con cháu mai sau. Vậy nhận thấy rằng, rừng là nguồn tài nguyên quý giá, một mối liên kết và sự sống trên trái đất.
Neu không có rừng bảo vệ và che chở chúng ta khi thảm họa thiên nhiên ập đến 13 thì con người có thê sẽ không còn tồn tại trên trái đất được lâu nữa. nhưng trong mồi chúng ta có thể có, có thế không biết cách bảo vệ rừng như vậy mỗi việc làm của chúng ta dù chỉ nhỏ thôi cũng đã làm hại đến thiên nhiên đặc biệt là lá phối xanh của nhân loại. Rừng cũng như những nguồn tài nguyên khác cũng cần được bảo vệ và làm sao cho lá phổi ấy giữ mãi một màu xanh là do ý thức của mỗi con người. Trước vai trò to lớn của rừng, chúng ta cần phải có những biện pháp cụ thể trong việc quản lý và bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, trên thực tế hành vi vi phạm các quy định quản lý về khai thác, bảo vệ rừng hiện nay xảy ra hết sức phức tạp với những thủ đoạn tinh vi, hậu quả của tội phạm gây ra hết sức nặng nề, không những ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, mà trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường và đời sống của nhân dân. Hành vi khai thác, chặt, phá rừng bừa bãi, nạn lâm tặc, khai thác tài nguyên, khoáng sản trái phép, săn bắn động vật hoang dã, quí hiếm diễn ra nhiều địa phương, tài nguyên đang cạn kiệt, nạn chặt phá rừng ở nước ta đang diễn ra bức xúc, cùng với đó là các hành vi của những người làm trong công tác quản lý rừng như cho phép khai thác, chặt, đốt rừng bừa bãi đã làm môi trường sống của chúng ta ở mức báo động. Do tính nguy hiểm ở hành vi này nên trong pháp luật hình sự từ xưa đến nay ở bất kỳ quốc gia, bất kỳ nhà nước nào cũng nghiêm trị hành vi xâm phạm đến rừng và áp dụng hình phạt. Do vậy việc quy định là tội phạm trong luật hình sự đế đấu tranh phòng ngừa và chống hành vi nguy hiểm này thực sự cần thiết.
Không những vậy, chế tài đưa ra cũng cần nghiêm khắc mới đáp ứng đòi hỏi của công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Khi tính nguy hiếm cho xã hội của hành vi là đáng kể, được quy định thành tội phạm và chịu hình phạt trong luật hình sự thì pháp luật hình sự trở thành công cụ hữu hiệu tác động đến hành vi sai lệch này. Đồng thời tác động đến ý thức của người dân nói 14 chung tạo ra một giới hạn trong ý thức của họ về việc thực hiện các hành vi của mình và đấu tranh phòng chống những hành vi vi phạm pháp luật. Theo đó, người thực hiện hành vi vi phạm các quy định về quản lý rừng bị coi là tội phạm và phải chịu các chế tài nghiêm khắc của luật hình sự đó là hình phạt.
Đây chính là thái độ của xã hội đối với hành vi đi ngược lại những chuân mực xã hội, đi ngược lại lợi ích của xã hội. Việc chịu hình phạt đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời đảm bảo công bằng xã hội. Trên cơ sở đó, người thực hiện hành vi nguy hiếm cho xã hội có điều kiện để cải tạo, giáo dục bản thân trở thành người có ích cho xã hội. Việc quy định phù họp giữa tính chất mức độ nguy hiếm cho xã hội của hành vi vi phạm và chế tài bị áp dụng hình phạt, có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Nó phát huy hiệu quả của công cụ đấu tranh phòng chống tội phạm, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội. Hành vi càng thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội cao bao nhiêu, thì hình phạt đối với hành vi ấy phải càng nghiêm khắc bấy nhiêu. Khi hai yếu tố này tương xứng nó góp phần là giảm thiếu mặt tiêu cực của hình phạt. Không chỉ cộng đồng xã hội nói chung mà ngay cả người phạm tội cũng nhận thấy hình phạt cho mình như vậy là thích đáng.
Có như vậy, bản thân họ mới có thê cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội. Quy định tội vi phạm các quy định về quản lý rừng trong pháp luật hình sự là cơ sở đê Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước sử dụng các công cụ pháp lý đấu tranh phòng chống tội phạm. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử những năm qua cho thấy rằng, mỗi loại tội phạm có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, phương pháp đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng khác nhau. Nhưng cho dù như thế nào thì chúng đều gây những thiệt hại nhất định cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.
Chúng là những hiện tượng xã hội tiêu cực cần chúng ta không ngừng đấu tranh, hạn chế và từng bước loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm vi phạm các quy định về quản lý rừng nói riêng và tội phạm nói chung đòi hỏi chúng ta phải tiến hành một cách 15 có hệ thống đồng bộ, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, không ngừng bổ trợ, tương hồ cho nhau để phát huy mặt tích cực và hạn chế những điểm yếu của từng biện pháp. Trên cơ sở đó, phát huy tốt nhất hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Đây không phải là nhiệm vụ của riêng ai.
Từ hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp, cơ quan tư pháp, đến các tổ chức chính trị, chính trị xã hội và đặc biệt quan trọng đó là ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm của chính mỗi người dân. Đồng thời sử dụng nhiều biện pháp từ những biện pháp như giáo dục, thuyết phục đến các biện pháp cưỡng chế trong đó, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất. Trước đòi hỏi đó, Bộ luật Hình sự đầu tiên năm 1985 đã quy định tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (Điều 181 Bộ luật Hình sự). Tuy nhiên, cấu thành tội phạm được quy định gộp hai loại hành vi trong một cấu thành tội phạm chung.
Bao gồm hành vi vi phạm về quản lý và bảo vệ rừng. Do nhu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và các loại tội phạm về rừng nói riêng và việc thực hiện triệt đe nguyên tắc cá thể hóa hành vi, cũng như cá thể hóa hình phạt, đồng thời thể hiện quan điểm xử lý của Nhà nước đối với từng loại tội phạm. Do vậy hai hành vi này cần thiết phải xây dựng thành các cấu thành tội phạm của các tội danh khác nhau. Chúng cần phải được xây dựng độc lập.
Xuất phát từ tính nguy hiếm cho xã hội của hai loại tội phạm này.