Chương 1: Tổng quan về khu vực nghiên cứu. Chương 2: Tính toán thủy văn xác định lưu lượng đầu nguồn và nhập bên lưu vực sông Hương. Chương 3: Tính toán lũ cho lưu vực sông Hương. Chương 4: Điều tiết liên hồ chứa trên lưu vực sông Hương.
GIỚI THIEU CHUNG LƯU VUC SONG HUONG 1. Khu vực nghiên cứu 107°0'0"E 107°30'0"E 108°0'0"E KHU VUC NGHIEN CUU QUANG ĐIỀN & BIEN DONG 16°30'0"N 16°30'0"N 16°0'0"N 16°0'0"N Qqn, SN Pa Fed_(RIÊN ĐÔNG Ghi chú a` mg Mạng sông N 24 phá Tam Giang- Cau Hai \ 4 [__] Ranh giới Huyện cựJ ——_] Thừa Thiên Hué “Pe Ỳ ra 0510 20 30 esKin 15°30'0"N 15°30'0"N 107°0'0"E 107°30'0"E 108°0'0"E Hình 1. Ban do khu vực nghiên cứu Khu vực nghiên cứu là lưu vực sông Hương. Luu vực sông Hương năm trong tinh Thừa Thiên Huế với vị trí địa lý từ: 15°59’ đến 16”40° vĩ độ Bắc và từ 107710” đến 107°45’ kinh độ Đông.
phía Bắc giáp biển Đông. phía Nam là dãy núi cao biên giới Việt - Lào, phía tây giáp lưu vực sông Ô Lâu, phía đông là sườn núi cao Bạch Mã. Lưu vực sông Hương có lưu vực dạng hình nan quạt với diện tích lưu vực 2.830km”, chiếm gần 3/5 diện tích tự nhiên của tỉnh, chiều dài sông chính 104km. Hệ thống sông Hương có 3 nhánh sông chính là sông Bỏ, sông Hữu Trạch và sông 8 Tả Trạch (dong chính).
Các nhánh sông chính nay đều bat nguồn từ khu vực núi cao trung bình thuộc huyện A Lưới, Nam Đông chảy qua các huyện Phong Điện, Hương Trà, Nam Dong, thành phố Huế, thị xã Hương Thủy và cuối cùng chảy vào phá Tam Giang. Theo đặc điểm hình thái dòng chính của hệ thống sông Hương có thé tách thành hai đoạn sông: đoạn chảy qua đổi núi và đoạn sông chảy qua đồng băng duyên hải. Đoạn sông chảy qua đồi núi thường có đáy sông dốc, nhiều thác chênh, không bị ảnh hưởng triều. Vào mùa lũ lưu lượng, vận tốc, mực nước đều rất cao, ngược lại trong mùa cạn các đặc trưng thủy văn này đều đạt giá tri rất thấp, lòng sông lộ nhiều cuội sỏi, đá tảng.
Trên đoạn sông chảy qua vùng đồng bằng dòng sông hiền hòa, chảy quanh co và bị ảnh hưởng mạnh của thủy triều và xâm nhập mặn. Ngoài các nhánh sông tự nhiên, còn có các sông đào nối sông Hương với sông Bô, nôi song Huong với đầm Cau Hai, nôi sông Bo với phá Tam Giang! I ` Aton re an ` : At oa ` re z : 5 Sông Bồ: bắt nguồn từ vùng núi có độ cao tuyệt đối khoảng 650m ở phía Đông A Lưới, chảy qua lãnh tho Hương Tra, Phong Điển theo hướng Nam - Bắc cho đến phía dưới ngã ba hội lưu với Rao Tràng, từ ngã ba đó đến Phú Oc sông chuyển hướng Tây Nam - Đông Bắc, sau đó sông lại chuyên hướng Đông cho tới chỗ hội lưu với sông Hương ở ngã ba Sình. Chiều dài dòng chính sông Bồ tính đến Cô Bi là 64km, đến ngã ba Sình là 94km. Diện tích lưu vực tính đến Cổ Bi là 720km”, đến ngã ba Sinh là 938km”.
Độ dốc đáy sông trong vùng đồi núi đạt 10,2m/km, độ dốc bình quân chung là 6,9 m/km!?!, Sông Hữu Trạch: Bat nguồn từ nơi có độ cao khoảng 500m ở vùng núi thấp phía Đông A Lưới - Nam Đông, chảy theo hướng Nam Bắc cho đến Bình Điền, từ Bình Điền sông đổi sang hướng Tây Nam - Đông Bắc và cuối cùng hội nhập với sông Tả Trach ở ngã ba Tuan. Tính đến ngã ba Tuan chiều dai dòng chính là 51km, diện tích lưu vực là 729km” và độ dốc bình quân lòng sông chính là 9,8 m/kmÏ”!. Sông Tả Trạch: Là nhánh sông chính bắt nguồn từ vùng núi trung bình huyện NamĐông với độ cao tuyệt đối 900m. Sông chính chảy theo hướng chung Nam Đông Nam - Bắc Tây Bắc cho tới ngã ba Tuần thì hội nhập với sông Hữu Trạch và trở thành sông Hương.
Từ đây sông Hương uốn lượn quanh co qua kinh thành Huế và đến Bao Vinh lại chuyển hướng Tây Nam - Đông Bắc để rồi sau đó hội lưu với sông Bỏ tại ngã ba Sình trước khi đồ ra phá Tam Giang và chảy ra biển 9 theo hai cửa Thuận An và Tư Hiền. Tính đến Dương Hoà, chiều dai dòng chính là 54km, diện tích lưu vực là 717km” và độ dốc bình quân lòng sông chính là 16,5m/km. Nếu tính đến nơi d6 ra phá Tam Giang, sông chính có chiều dai là 104km, diện tích lưu vực là 2.830km” và độ dốc bình quân lòng sông là 8,65m/kmPÌ. Sông Nham Biểu: lẫy nước từ sông Hương tại Xước Dũ qua cống Nham Biéu.
Sông Nham Biéu chia làm 2 nhánh, một nhánh chảy qua sông Bạch Yến, sông An Hòa rồi đồ vào lại sông Huong tai Bao Vinh, một nhánh chảy qua kênh 7 xã, kênh 5 xã và nối với sông Bồ, nhánh này đồ ra phá Tam Giang qua các công An Xuân và cống Quán Cửa. Sông Nham Biéu nằm trong địa phần huyện Hương Trài”. Sông Lợi Nông (An Cựu): nhận nước từ sông Hương tại vị trí côn Dã Viên (cống Phú Cam) chảy trong địa phận thành phố Huế va qua các huyện Hương Thủy, Phú Lộc rồi nhập lưu vào sông Đại Giang và đồ ra phá Tam Giang"! Sông Như Y: đoạn sông nỗi ra sông Hương tại đập Đá, đây là đoạn sông cụt do bị đập Đá chăn ở cửa vào, sông Như Ý tách ra 2 nhánh , một nhánh chảy ra công Cầu Long đồ ra phá Tam Giang, một nhánh chảy thành sông Cùng rồi nhập lưu lại sông Như Y và cùng chảy về sông Đại Giang dé đồ ra phá Tam Giang. Sông Như Ý chảy trong địa phận thành phố Huế va qua các huyện Phú Vang va Phú Lộc”.
Sông Phổ Lợi: Đoạn đầu sông Phố Lợi nỗi với sông Hương qua công La Y. Sông Phô Lợi có đoạn chạy qua khu vực chợ Nọ nên đoạn này còn gọi là sông chợ Nọ. Sông Phố Lợi chảy trên địa phận huyện Phú Vang và đồ ra phá Tam Giang qua cống Diên Trường!”. Đặc điểm địa hình”) Đặc điểm địa hình thái Thừa Thiên Huế là sự chuyển bậc nhanh chóng từ vùng núi xuống vùng đồng bằng ven biển.
Miễn núi tập trung ở vùng phía Tây, chiếm phan lớn diện tích của lãnh thé va thuộc vào loại núi cao trung bình 1. Các đỉnh cao có độ cao 1.138m nam trên đường chia nước chính (thuộc dãy Trường Son) đồng thời là đường biên giới Việt - Lào; Trong khi đó, các vùng núi Động Ngài 1.774m ranh giới Quảng Trị - Thừa Thiên Huế ở phía Bắc, vùng núi Mang 1.517m, ở phía Nam đều cao trên 1.500m, tạo nên các vùng sườn cao, dôc đứng hứng mưa lớn của các hướng mưa lớn của các 10 hướng gió mùa Đông Bac, Đông Nam rồi đồ nhanh nước về các đồng băng, khiến cho Thừa Thiên Huế trở thành một khu vực phân ranh khí hậu theo chiều Bắc - Nam và chịu tác động của các nhiêu động thời tiét gid mùa đặc sac nhat Việt Nam. Địa hình núi chuyển bậc nhanh và khá đột ngột về phía Đông, xuống dải đồng bang hẹp ven biển thông qua một dải đôi - núi thấp rất phân tan có độ cao trung bình 200 - 300m. Diện tích núi và đôi chiếm đến trên 80% diện tích toàn tinh, còn dải đồng bằng ven biến thường là dải đồng bang hạ lưu của các sông ngăn, nhìn chung rất hẹp (thường có bề ngang không quá 20km) lại bị các dải cát cao (đê cát) ven biển chắn phía Đông.
Những nét đặc thù địa hình nêu trên có ảnh hưởng rat lớn đến chế độ dong chảy của các lưu vực sông trong Tỉnh, đặc biệt nó có tac động trực tiếp đến sự vận động của dòng chảy lũ. Tính không cân đối của sự phân bố và qui mô các miền và kiểu địa hình thái trong đó miền núi chiếm ty trọng lớn hơn nhiều lần miền đồng băng của Thừa Thiên Huế là rất rõ rệt. Hình thái nay qui định sự biến đôi gradient địa hình và dòng chảy, diện tích hứng nước, chiều dai chuyền tải nước. Hình dạng và kích thước lưu vực là những chỉ số có thể định lượng trong phân tích lưu vực cho phép đánh giá mức truyền nước nhanh hay chậm của lưu vực.
Chế độ mwa!” Là một trong các tinh nam ở phía Đông dãy Trường Sơn của miền duyên hải Trung bộ nên chế độ mưa, lượng mưa ở đây vừa chịu sự chi phối của cơ chế hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á, vừa bị tác động mạnh mẽ của vị trí địa lý (địa thế) và điều kiện địa hình. Nói chung, chế độ mưa Thừa Thiên Huế mang nhiều đặc điểm khác với chế độ mưa ở Bắc Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Mùa mưa ở Bắc Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ gan liền với hoạt động gió mùa hè Tây Nam, còn mùa mưa ở Thừa Thiên Huế lại liên quan chặt chẽ với gió mùa mùa đông Đông Bắc thời ky đầu (khi các nhiễu động nhiệt đới chưa lùi han về phía Nam). Nếu như vào các tháng 6 - 8 trên lãnh thổ phía Bắc là thời kỳ mưa do ảnh hưởng của bão, hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới, đường đứt còn đang ở vĩ độ cao, thì miền Trung lại trải qua thời kỳ khô nóng do hiệu ứng "phon" khi gió mùa Tây Nam vượt qua dãy Trường Son.
Nhưng đến các tháng 9, 10, 11 khi vùng hoạt động cua nhiều động nhiệt đới đã lùi 11 han xuống phía Nam, đồng thời gió mùa Đông Bắc bat đầu hoạt động mạnh thi mưa lớn bộc phát. Đó là các trận mưa như trút nước, kẻo dài tưởng như không bao giờ dứt. Maa mica và mùa it mưa: Ở lãnh thé này không có sự khác biệt lớn giữa mùa mưa với mùa khô, mà chỉ có mùa mưa và mùa ít mưa. Trên lãnh thé Thừa Thiên Huế tôn tại hai vùng chế độ mưa khác nhau, nhưng lại có sự trùng hợp về thời ky mưa nhiều nhất và mưa ít nhất: vùng núi Nam Đông - A Lưới và vùng đồng bằng duyên hải.
Ở đồng bằng duyên hải, mùa mưa (thời kỳ có lượng mưa tháng lớn hơn 100mm với tần suất >75%) diễn ra trong 4 tháng (9 - 12), còn mùa it mưa lại chiếm tới 8 thang (1 - 8). Thuộc khu vực núi đổi, mùa mưa kéo dài 7 thậm chí 8 tháng (từ tháng 5 hay tháng 6 - 12), ngược lại mùa it mưa không ton tại qua 4 hoặc 5 tháng (từ thang | - 4 hoặc tháng 5). Về cơ bản mùa mưa và mùa ít mưa ở đồng bang cũng khá phù hợp với chế độ mưa ở các tỉnh, thành phố từ Đà Nàng đến Bình Định. Phân bỗ mưa: Thừa Thiên Huế là một trong các tỉnh có lượng mưa nhiều nhất nước ta.
Luong mưa trung bình năm trên toan lãnh thé đều vượt quá 2.