phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Trong luận văn có 12 bảng, 08 biểu đồ và 01 sơ đồ. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về sáng tạo trên thế giới Hiện nay, nghiên cứu về khả năng sáng tạo của con ngƣời đang ngày càng đƣợc các học giả quan tâm trên nhiều lĩnh vực không chỉ đƣợc nghiên cứu trong ngành Tâm lý học mà nó còn đƣợc nghiên cứu trong nhiều ngành khoa học khác nữa. Quan điểm của các nhà khoa học trƣớc đây thƣờng gắn sáng tạo với thiên tài, tài năng trong trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật.
Vì vậy, họ chỉ tập trung mô tả, giải thích mà không đi sâu vào nghiên cứu bản chất và quy luật của hoạt động sáng tạo. Cũng từ quan điểm đó mà trƣớc đây nguồn duy nhất để nghiên cứu vấn đề sáng tạo là các tiểu sử, hồi ký, các tác phẩm văn học, nghệ thuật của các danh nhân, nghệ sĩ, nhà văn, nhà phát minh nhƣ: Leonadovanhxi, Vangogh, Moza, Newton. Quan điểm này đã làm hẹp đi phạm vi nghiên cứu của các nhà khoa học, làm hạn chế khả năng thu thập số liệu nghiên cứu bởi vì chỉ mô tả. Trong khi đó, chúng ta đều biết khả năng sáng tạo hay hoạt động sáng tạo không chỉ có ở những thiên tài mà còn tiềm ẩn trong mỗi cá nhân.
Tổng hợp các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học trên thế giới, có thể tiếp cận nghiên cứu sáng tạo theo bảy xu hƣớng chính, đó là [15, tr 35]: (1) Tiếp cận thần bí (2) Tiếp cận thực dụng (3) Tiếp cận động lực tâm lý (4) Tiếp cận trắc đạc tâm lý (5) Tiếp cận nhận thức (6) Tiếp cận xã hội – nhân cách (7) Tiếp cận hội tụ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với bảy xu hƣớng tiếp cận này có thể thấy có nhiều góc độ khác nhau để nghiên cứu về sáng tạo. Cách tiếp cận thần bí cho ta thấy sáng tạo giống nhƣ một phạm trù vô cùng bí ẩn mà thần thánh ban tặng cho con ngƣời, tiếp cận thần bí đã làm cho kết quả nghiên cứu khoa học càng trở nên khó tiếp cận và khó tin tƣởng. Ngày nay, cách tiếp cận này không còn phổ biến trong khoa học. Cách tiếp cận động lực tâm lý lại dựa trên sự tồn tại căng thẳng giữa ý thức và khát vọng vô thức.
Freud cho rằng các nhà văn nghệ sĩ tạo ra tác phẩm sáng tạo nhƣ là cách để biểu đạt những mong muốn vô thức dƣới dạng công chúng chấp nhận đƣợc. Còn Kubie lại cho rằng, nguồn gốc thực sự của sáng tạo nằm ở tiềm thức – tiềm thức nằm giữa ý thức và vô thức. Cách tiếp cận này cho ta gợi mở về bản chất sáng tạo nhƣng lại không thể đo đạc đƣợc các cấu thành mà lý thuyết này đƣa ra. Cách tiếp cận thực dụng lại dành nhiều thời gian cho việc phát triển sáng tạo mà ít quan tâm đến bản chất của sáng tạo.
Bằng cách tiếp cận này, Edward De Bono đã đƣa ra phƣơng pháp tƣ duy theo 6 chiếc mũ tƣ duy để khuyến khích sáng tạo; hay Osborn phát triển kỹ thuật công não để khuyến khích mọi ngƣời giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Có thể thấy, trong cách tiếp cận này thiếu những cơ sở khoa học và những cách đánh giá thực chứng đủ tin cậy. Tiếp cận trắc đạc tâm lý: là hƣớng tiếp cận sử dụng các trắc nghiệm để đo tính sáng tạo. Tiêu biểu cho hƣớng tiếp cận này là Guilford – ngƣời đề xuất “tƣ duy phân kỳ” trở thành công cụ chính để đo tƣ duy sáng tạo.
Năm 1974 Torrance đã xây dựng Trắc nghiệm tƣ duy sáng tạo Torrance (TTCT). Việc sử dụng trắc nghiệm để nghiên cứu sáng tạo đã cũng cấp một công cụ dễ làm, có thể cho điểm khách quan và có thể nghiên cứu trên bất kỳ đối tƣợng nào, tuy nhiên nhiều nhà phê bình đã chỉ ra kết quả đo bằng điểm về sự thành thục, mềm dẻo, độc đáo và chi tiết không bao quát đƣợc nội hàm sáng tạo. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiếp cận nhận thức: đƣợc sử dụng để nghiên cứu cả chủ thể con ngƣời lẫn mô phỏng tƣ duy sáng tạo trên máy tính. Các tác giả Finke, Ward, Smith, Sternberg, Davidson đã đề xuất mô hình tƣ duy sáng tạo gồm hai giai đoạn: (1) - tạo ý tƣởng, (2) – khai thác ý tƣởng.
Ở giai đoạn tạo ý tƣởng, cá nhân xây dựng dạng thức tâm lý, đƣợc gọi là cấu trúc tiền sáng tạo, nó có các thuộc tính đƣợc sử dụng để xúc tiến phát kiến sáng tạo. Trong giai đoạn khai thác ý tƣởng, các thuộc tính này đƣợc dùng để đi đến ý tƣởng sáng tạo. Hàng loạt các quá trình tâm lý đi vào hai giai đoạn này nhƣ là sự phục hồi, liên tƣởng, tổng hợp, chuyển hóa… Tiếp cận xã hội – nhân cách: cùng với tiếp cận nhận thức, tiếp cận xã hội – nhân cách tập trung vào nghiên cứu nhân cách, động cơ và môi trƣờng văn hóa xã hội nhƣ nguồn gốc của sáng tạo. Các nhà nghiên cứu nhƣ Amabile và Csikszentmihalyi đã đƣa ra đƣợc đặc điểm nhân cách của ngƣời sáng tạo nhƣ khả năng phê phán độc lập, tự tin, bị lôi cuốn bởi tính phức tạp, định hƣớng mỹ học và ƣa mạo hiểm… Nếu nhƣ tiếp cận nhận thức bỏ qua việc xem xét khía cạnh nhân cách và xã hội thì tiếp cận xã hội – nhân cách lại bỏ qua việc nghiên cứu quá trình sáng tạo.
Nhƣ vậy, dù có nghiên cứu tiếp cận theo hƣớng nào cũng chỉ là một chiều và đơn tuyến. Do đó, cách tốt nhất là sử dụng tiếp cận đa ngành trong nghiên cứu sáng tạo. Tiếp cận hội tụ: những nghiên cứu gần đây cho rằng cần phải có nhiều yếu tố giúp cho sáng tạo xuất hiện. Có thể nói tiếp cận hội tụ cho phép xem xét sáng tạo theo các chiều cạnh khác nhau.
Ở cấp độ lý thuyết, Amabile mô tả sáng tạo nhƣ sự hội tụ của động cơ bên trong, những kiến thức và kỹ năng lĩnh vực phù hợp và những kỹ năng sáng tạo phù hợp. Sternberg và Lubart đƣa ra lý thuyết đầu tƣ sáng tạo. Theo lý thuyết này, sáng tạo đòi hỏi phải có sự hội tụ của 6 nguồn lực khác biệt nhƣng liên quan với nhau: năng lực trí tuệ, kiến thức, kiểu tƣ duy, nhân cách, động cơ và môi trƣờng. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, trong tâm lý học chƣa có nhiều nghiên cứu về sáng tạo so với các chủ đề khác.
Tuy nhiên, bằng những tiếp cận vừa mới đƣợc đề cập ở trên cũng cho thấy một sự đa dạng nhất định. Tổng hợp các cách tiếp cận nghiên cứu sáng tạo, có thể quy về những hƣớng tiếp cận nghiên cứu sáng tạo nhƣ sau: Hướng thứ nhất: tiếp cận nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ quá trình Các nhà nghiên cứu sáng tạo đã đi đến thống nhất rằng quá trình sáng tạo bao gồm nhiều bƣớc với sự tham gia của hai loại hiện tƣợng tâm lý: hiện tƣợng lôgic và hiện tƣợng trực giác. Biểu hiện của cả hai hiện tƣợng này rất đa dạng phong phú và ở những ngƣời khác nhau, sản phẩm sáng tạo xuất hiện cũng rất khác nhau. Theo mô hình kinh điển của Wallas (1962), quá trình sáng tạo có thể bao gồm những bƣớc chính sau: (1) Chuẩn bị, (2) Ấp ủ, (3) Thấu hiểu (Lóe sáng), (4) Đánh giá và cụ thể hóa.
Chuẩn bị: Đây là giai đoạn quan trọng chiếm nhiều thời gian và phụ thuộc rất nhiều vào việc chủ thể sáng tạo có tiếp nhận vấn đề một cách nghiêm túc hay không. Việc chuẩn bị bao gồm việc lĩnh hội kho tàng kiến thức về lĩnh vực, tìm hiểu những vấn đề liên quan, kiến thức và kỹ năng về phƣơng pháp. Ấp ủ: ở giai đoạn này các ý tƣởng chƣa xuất hiện mà có thể còn đƣợc nung nấu ở cấp độ dƣới ý thức, sự trăn trở có ý thức về những vấn đề, sự thúc ép về hậu quả vấn đề, những kích thích bởi hứng thú, đam mê và sự cam kết đẩy chuyển hóa sang giai đoạn tiềm thức. Khi ý tƣởng liên kết với nhau, tự thân không có sự điều kiển nào của ý thức, nhƣng bất thần những kết nối xuất hiện, ý tƣởng sáng tạo xuất hiện bất ngờ và bƣớc thấu hiểu bắt đầu.
Lóe sáng: Bƣớc này bắt đầu bằng việc ý tƣởng bất ngờ. Có thể nói sự xuất hiện ý tƣởng này chỉ là kết quả của giai đoạn trƣớc. Nếu không có sự làm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc chăm chỉ trong giai đoạn chuẩn bị và những trăn trở trƣớc đó, không thể có thời điểm ý tƣởng sáng tạo xuất hiện một cách bất ngờ nhƣ vậy. Đánh giá và cụ thể hóa: Khi cá nhân nhận đƣợc ý tƣởng bất ngờ, câu hỏi cần đƣợc giải đáp là liệu ý tƣởng này có giá trị và có đáng theo đuổi hay không.
Đây cũng là lúc các tiêu chuẩn bên trong lĩnh vực và ý kiến chuyên môn là quan trọng nhất. Đánh giá và cụ thể hóa ý tƣởng là giai đoạn chiếm nhiều thời gian nhất và gồm những công việc nặng nhọc nhất. Chấp nhận về cơ bản mô hình quá trình của Wallas và tách 4 bƣớc ra thành 2 bƣớc kiểm tra ý tƣởng và đánh giá ý tƣởng, Amabile (1983) đề xuất mô hình sáng tạo gồm 5 bƣớc: Sự xuất hiện vấn đề (thông qua tác động bên từ bên trong và bên ngoài); Chuẩn bị (thu thập thông tin phù hợp để giải quyết vấn đề); Sản sinh ý tưởng (đƣa ra những phƣớng án có thể cho việc giải quyết vấn đề); Kiểm tra ý tưởng (kiểm tra từng ý tƣởng đã đƣa theo sự phù hợp với vấn đề); Đánh giá sản phẩm (lựa chọn cấu trả lời cho vấn đề). Hogarth(1980) cũng đề xuất quá trình sáng tạo gồm 4 bƣớc: chuẩn bị; đưa ra giải pháp; đánh giá giải pháp; áp dụng giải pháp.
Stein (1967) lại đề xuất xem xét mô hình quá trình sáng tạo chỉ với 3 bƣớc: hình thành giả thuyết; kiểm tra giả thuyết; trao đổi kết quả. Theo Csikszentmihalyi, ông nghiên cứu tính sáng tạo dƣới góc độ quá trình nhƣng nhấn mạnh yếu tố hứng thú, đam mê, nhấn mạnh vai trò của thời gian rảnh rỗi, của yếu tố trực giác. Ông là ngƣời đƣa ra thuật ngữ Dòng sáng tạo - để chỉ dòng chảy dẫn đến kết quả, đến sự phát hiện.