Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, năng lực sáng tạo đã trở thành chỉ số cạnh tranh cốt lõi của nguồn nhân lực thế hệ mới. Theo các khảo sát giáo dục đại học, khoảng 70% doanh nghiệp toàn cầu ưu tiên tuyển dụng nhân sự sở hữu tư duy đột phá và khả năng thích ứng linh hoạt. Nhận thức rõ tầm quan trọng này, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định rõ mục tiêu xây dựng con người Việt Nam có tri thức, kỹ năng lao động giỏi và năng lực sáng tạo vượt trội nhằm ứng dụng hiệu quả khoa học công nghệ vào thực tiễn.

Tuy nhiên, tại hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, hoạt động phát triển tiềm năng sáng tạo của người học vẫn chưa đạt hiệu quả tương xứng với kỳ vọng. Nghiên cứu của tác giả Vương Thị Thu Hằng, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thành Nghị tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá thực trạng và xác định cấu trúc tâm lý của tính sáng tạo ở sinh viên đại học.

Đề tài đặt mục tiêu khảo sát thực nghiệm mức độ sáng tạo của sinh viên thông qua ba thành tố tâm lý nền tảng, đồng thời phân tích các yếu tố môi trường giáo dục tác động đến biểu hiện này. Khách thể nghiên cứu được triển khai chuyên sâu trên 150 sinh viên thuộc 4 khóa đào tạo và 10 giảng viên Khoa Tiếng Anh tại Trường Đại học Hà Nội - đơn vị đào tạo ngôn ngữ trọng điểm với quy mô gần 8.000 sinh viên chính quy thuộc 14 khoa chuyên ngành. Với khung thời gian nghiên cứu hoàn thành vào năm 2013, công trình mang lại giá trị thực tiễn to lớn trong việc chuẩn hóa thang đo tâm lý, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chính xác phục vụ công tác đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo đại học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên thuyết ba thành tố sáng tạo của Teresa M. Amabile (năm 1983, năm 1996) kết hợp với mô hình nguồn lực đầu tư của Robert J. Sternberg. Theo quan điểm của Amabile, tính sáng tạo của cá nhân được hình thành và biểu hiện thông qua sự tương tác mật thiết giữa ba thành tố:

  • Kỹ năng lĩnh vực phù hợp: Đại diện cho nền tảng kiến thức chuyên môn, năng lực kỹ thuật và sự hiểu biết sâu sắc về ngành đào tạo.
  • Kỹ năng sáng tạo phù hợp: Bao gồm phong cách nhận thức linh hoạt, thói quen tư duy đột phá và khả năng áp dụng các kỹ thuật tìm tòi ý tưởng độc đáo.
  • Động cơ nội sinh: Động lực xuất phát từ chính sự say mê, niềm hứng thú và sự thôi thúc nội tại của người học đối với nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, tác giả kế thừa mô hình quá trình sáng tạo 4 giai đoạn kinh điển của Graham Wallas (Chuẩn bị, Ấp ủ, Lóe sáng, Đánh giá - Cụ thể hóa) và lý thuyết Dòng sáng tạo (Flow) của Mihaly Csikszentmihalyi. Bốn khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm: sáng tạo (quá trình tạo ra sản phẩm mới và hữu ích), tính sáng tạo (thuộc tính nhân cách phản ánh tiềm năng tạo ra cái mới lạ), động cơ sáng tạo và môi trường kích thích sáng tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình tiếp cận đa phương pháp nhằm đảm bảo độ giá trị và độ tin cậy của dữ liệu:

  • Nguồn dữ liệu và mẫu khảo sát: Tổng quy mô mẫu gồm 150 sinh viên được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện, phân bổ đồng đều qua 4 năm học (Khóa 1: 42 sinh viên; Khóa 2: 46 sinh viên; Khóa 3: 41 sinh viên; Khóa 4: 21 sinh viên). Mẫu định tính mở rộng gồm 10 giảng viên chuyên ngành trực tiếp tham gia phỏng vấn sâu.
  • Công cụ đo lường chuẩn hóa: Sử dụng bảng hỏi khảo sát 5 mức độ theo thang đo Likert (từ 1 điểm - Hoàn toàn sai đến 5 điểm - Hoàn toàn đúng) gồm 24 biến quan sát đo lường 3 thành tố tâm lý và môi trường giáo dục. Đồng thời, tác giả ứng dụng Trắc nghiệm sáng tạo hữu ngôn TST của tác giả Klaus Schoppe (do Nguyễn Huy Tú Việt hóa năm 1998) gồm 9 tiểu test với thời gian làm bài chuẩn 37 phút, nhằm xác định chỉ số sáng tạo CQ (dao động từ 70 đến 130 điểm). Hệ số tương hợp đánh giá của bài trắc nghiệm đạt mức cao từ 0,90 đến 0,93.
  • Phương pháp phân tích: Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý thông qua phần mềm thống kê chuyên ngành SPSS phiên bản 16.0 với các thuật toán thống kê mô tả, kiểm định độ lệch chuẩn, phân tích tần số và tương quan tuyến tính. Tiến trình nghiên cứu được thực hiện bài bản từ tháng 8/2011 đến tháng 10/2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích định lượng từ bảng hỏi và bài trắc nghiệm TST đã mang lại những phát hiện quan trọng về tiềm năng sáng tạo của sinh viên:

  • Thứ nhất, về Kỹ năng lĩnh vực phù hợp: Điểm trung bình chung của thành tố này đạt mức 3,09/5,00 điểm, thuộc mức trung bình khá. Trong đó, chỉ báo sinh viên được trang bị kiến thức 4 kỹ năng ngôn ngữ đạt điểm cao nhất với 3,38 điểm, tiếp đến là kỹ năng đọc hiểu với 3,13 điểm và kiến thức nghề nghiệp với 3,11 điểm. Ngược lại, kỹ năng viết học thuật xếp ở vị trí thấp nhất với 2,87 điểm.
  • Thứ hai, về Kỹ năng sáng tạo phù hợp: Điểm trung bình các chỉ báo dao động từ 2,95 đến 3,18 điểm. Đa số sinh viên có xu hướng xử lý vấn đề dựa trên thói quen tư duy phân kỳ nhưng còn hạn chế trong việc linh hoạt chuyển đổi góc nhìn khi gặp bài toán phức tạp.
  • Thứ ba, về Động cơ nội sinh: Đây là thành tố đạt điểm số cao nhất trong cấu trúc tâm lý với điểm trung bình vượt mức 3,45 điểm. Hơn 72% sinh viên thể hiện niềm đam mê khám phá tri thức mới và mong muốn đổi mới phương thức làm việc khi được tự chủ trong học tập.
  • Thứ tư, về Chỉ số sáng tạo CQ qua trắc nghiệm TST: Khoảng 64,7% sinh viên đạt mức độ sáng tạo Trung bình (CQ từ 91 đến 110 điểm), tỷ lệ sinh viên đạt mức Khá (CQ từ 111 đến 125 điểm) chiếm 22,0%, trong khi tỷ lệ đạt mức Cao (CQ từ 126 đến 130 điểm) chỉ dừng lại ở mức 4,0%.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh thực trạng sinh động về tính sáng tạo trong môi trường đại học. Khi thể hiện qua biểu đồ phân phối hình chuông, chỉ số CQ của sinh viên tập trung chủ yếu ở dải điểm trung bình, thể hiện tiềm năng sáng tạo tiềm ẩn rất lớn nhưng chưa được kích hoạt tối đa.

Nguyên nhân chính của thực trạng trên xuất phát từ sự chuyển tiếp trong phương pháp đào tạo. Khi học tập ở bậc phổ thông, sinh viên chủ yếu tập trung vào các dạng bài thi ngữ pháp và đọc hiểu khép kín. Khi bước vào giảng đường đại học, việc phải vận dụng kỹ năng sản sinh ngôn ngữ như viết luận và thuyết trình sáng tạo đã bộc lộ sự hụt hẫng nhất định về kỹ năng lĩnh vực (như thể hiện qua 86% sinh viên thuộc khối năm 1, năm 2 và năm 3 đang trong giai đoạn tích lũy).

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các luận điểm của Giáo sư Phạm Thành Nghị trong các công trình nghiên cứu tâm lý học sáng tạo: Động cơ nội sinh đóng vai trò lực đẩy tiên quyết, nhưng nếu thiếu đi môi trường học tập tin tưởng và phương pháp gợi mở của giảng viên, các kỹ năng sáng tạo sẽ khó chuyển hóa thành sản phẩm cụ thể.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực chứng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao tính sáng tạo của sinh viên:

  • Ban Giám hiệu và Nhà trường: Đổi mới toàn diện chương trình đào tạo theo mô hình dạy học giải quyết vấn đề (Problem-Based Learning), phấn đấu nâng tỷ trọng các học phần ứng dụng thực hành và dự án liên ngành lên tối thiểu 40% trong lộ trình 2014-2016. Đầu tư không gian mở sáng tạo (Creative Hub) và hệ thống thư viện dữ liệu số hóa nhằm cung cấp môi trường học tập truyền cảm hứng.
  • Giảng viên chuyên ngành: Áp dụng linh hoạt các kỹ thuật công não (Brainstorming), bản đồ tư duy và phương pháp 6 chiếc mũ tư duy của Edward de Bono trong 100% các giờ học thảo luận. Cần đa dạng hóa hình thức đánh giá, giảm thiểu 30% các câu hỏi kiểm tra ghi nhớ máy móc, gia tăng bài tập tình huống đòi hỏi giải pháp độc đáo và tư duy phản biện.
  • Khoa chuyên môn và Tổ chức Đoàn Thanh niên: Định kỳ tổ chức tối thiểu 02 cuộc thi sáng tạo học thuật và nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường mỗi năm. Xây dựng các câu lạc bộ học thuật chuyên sâu nhằm rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng làm việc nhóm và bản lĩnh giải quyết vấn đề trước các thách thức thực tế.
  • Bản thân sinh viên: Chủ động xây dựng thói quen tự học, thiết lập sổ tay ghi chép ý tưởng sáng tạo hàng ngày, tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa và dự án cộng đồng. Mục tiêu đặt ra là mỗi cá nhân tự nâng cao kỹ năng sản sinh ngôn ngữ, từng bước gia tăng chỉ số sáng tạo CQ cá nhân lên mức trên 115 điểm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn là tài liệu tham khảo giàu giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm độc giả:

  • Cán bộ quản lý giáo dục và lãnh đạo trường đại học: Nắm bắt bức tranh tổng thể về các rào cản tâm lý học đường, từ đó hoạch định chính sách đào tạo, xây dựng môi trường văn hóa đại học thúc đẩy đổi mới sáng tạo toàn diện.
  • Giảng viên đại học và cao đẳng: Tham khảo các chỉ báo thực nghiệm để thiết kế giáo án giảng dạy tương tác, biết cách kích hoạt động cơ nội sinh và tối ưu hóa phương pháp đánh giá năng lực của người học.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Tâm lý học - Giáo dục học: Sử dụng công trình như một nghiên cứu điển hình về phương pháp luận, cách thức vận dụng thuyết thành tố của Amabile và quy trình chuẩn hóa trắc nghiệm sáng tạo hữu ngôn TST tại Việt Nam.
  • Sinh viên các trường đại học: Nhận diện chính xác điểm mạnh và hạn chế trong tư duy cá nhân, từ đó có lộ trình tự rèn luyện kỹ năng lĩnh vực và bồi dưỡng động lực học tập sáng tạo bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Cấu trúc tính sáng tạo của sinh viên gồm những thành tố tâm lý nào?

Theo lý thuyết của Amabile được kiểm chứng trong luận văn, tính sáng tạo của sinh viên được cấu thành từ 3 thành tố: Kỹ năng lĩnh vực phù hợp (kiến thức, chuyên môn), Kỹ năng sáng tạo phù hợp (phong cách nhận thức, kỹ thuật tư duy mới) và Động cơ nội sinh (niềm say mê, ý chí theo đuổi công việc).

Chỉ số sáng tạo CQ của sinh viên Trường Đại học Hà Nội đạt mức nào?

Khảo sát bằng bài trắc nghiệm chuẩn hóa TST của Klaus Schoppe cho thấy phần lớn sinh viên (khoảng 64,7%) đạt mức sáng tạo Trung bình với chỉ số CQ từ 91 đến 110 điểm. Tỷ lệ sinh viên đạt mức Khá chiếm 22,0% và mức Cao đạt khoảng 4,0%.

Thành tố nào đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thúc đẩy tính sáng tạo?

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm chứng minh Động cơ nội sinh là nhân tố giữ vai trò chủ đạo và thúc đẩy mạnh mẽ nhất. Khi sinh viên có niềm say mê và hứng thú tự thân, họ sẵn sàng vượt qua khó khăn để tìm tòi các phương pháp giải quyết vấn đề mới mẻ.

Môi trường giáo dục đại học ảnh hưởng như thế nào đến tính sáng tạo?

Môi trường giáo dục cởi mở, giảng viên khuyến khích sự tự lập và công nhận nỗ lực cá nhân sẽ kích thích mạnh mẽ tư duy sáng tạo. Ngược lại, phương pháp truyền thụ một chiều, học vẹt và áp đặt định kiến là những rào cản triệt tiêu tiềm năng sáng tạo của người học.

Trắc nghiệm TST đo lường tính sáng tạo dựa trên nguyên lý nào?

Test sáng tạo hữu ngôn TST gồm 9 tiểu test thực hiện trong 37 phút, sử dụng tư liệu ngôn ngữ để đo lường độ trôi chảy, tính linh hoạt, tính độc đáo và khả năng liên tưởng xa của tư duy, cho phép lượng hóa chính xác tiềm năng sáng tạo tổng quát của cá nhân.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sâu sắc cơ sở lý luận về tính sáng tạo thông qua việc vận dụng thành công lý thuyết ba thành tố của Amabile vào bối cảnh đại học tại Việt Nam.
  • Đánh giá khách quan thực trạng tính sáng tạo của 150 sinh viên Khoa Tiếng Anh Trường Đại học Hà Nội, chỉ ra điểm trung bình kỹ năng lĩnh vực đạt 3,09/5,00 và chỉ số CQ tập trung chủ yếu ở mức trung bình (64,7%).
  • Xác định rõ mối tương quan giữa 3 thành tố tâm lý, khẳng định động cơ nội sinh là động lực cốt lõi chi phối biểu hiện sáng tạo của người học.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và khả thi nhằm chuyển đổi môi trường giáo dục đại học theo hướng phát huy tối đa tiềm năng cá nhân từ năm học 2014 trở đi.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên quan tâm đến tâm lý học sáng tạo. Hãy tiếp tục đào sâu nghiên cứu và ứng dụng khung đo lường này để xây dựng thế hệ sinh viên Việt Nam năng động, bản lĩnh và sáng tạo vượt bậc.