Chương 1 : Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2 : Phương pháp và thiết kế tổ chức nghiên cứu Chương 3 : Kết quả nghiên cứu và bàn luận KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 11 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Năng lực Khái niệm “Năng lực” đã được tìm hiểu từ lâu trên thế giới. Ban đầu, đã có những quan điểm gần như trái ngược nhau về khái niệm này.
Nếu như theo quan điểm di truyền học, A. Binet (1905) cho rằng: Năng lực phụ thuộc tuyệt đối vào tính chất bẩm sinh của di truyền gen, thì theo quan điểm xã hội học, E. Durkheim (1893) lại cho rằng: Năng lực con người được quyết định bởi xã hội. Tuy nhiên, những quan điểm này do thiếu đi yếu tố giáo dục, mà chỉ thiên về yếu tố bẩm sinh nên chỉ được coi như là những khái niệm sơ khởi, làm tiền đề để nghiên cứu sâu hơn về “năng lực”.
Gardner (1983) đã đưa ra một quan điểm khá toàn diện về “năng lực” thông qua việc phân tích 8 lĩnh vực trí năng của con người, đó là: ngôn ngữ, lôgic-toán học, âm nhạc, không gian, vận động cơ thể, giao tiếp, tự nhận thức, hướng tới thiên nhiên. Theo Gardner, sự kết hợp của các trí năng này đã tạo nên năng lực của một cá nhân. Tổng hợp các khái niệm của các nhà giáo dục, ta có thể có một số cách hiểu như sau về “năng lực”: Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck,1998). Năng lực: là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001). 12 Năng lực của HS là sự kết hợp hợp lý kiến thức, kỹ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề” (Weinert, 2001). Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002). Năng lực: là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” (Québec- Ministere de l’Education, 2004); Năng lực: là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” (Tremblay, 2002).
Tại Việt Nam, cũng có không ít các tác giả đã đưa ra những quan điểm, định nghĩa về khái niệm này. Theo Từ điển Tiếng Việt, “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực của con người là tổng hợp những phẩm chất tâm sinh lí, tạo cơ sở cho khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó ở mức độ cao.” Theo Ngyễn Quang Uẩn (1998): Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả. Hay như giáo sư Lâm Quang Thiệp (2012) cho rằng: “… năng lực nào đó của một con người thường là tổng hòa của kiến thức, kỹ năng, tình cảm - thái độ được thể hiện trong một hành động và tình huống cụ thể”.
Trong khi đó, với cách tiếp cận hành vi (behavioural approach), Lương Việt Thái (2011) coi năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự lắp ghép các mảng kiến thức và kĩ năng cụ thể. (Ví dụ: “năng lực toán học” được hình thành qua việc học kiến thức cơ bản về toán và kĩ năng giải các bài 13 tập toán,. Với cách hiểu này, việc đánh giá năng lực người học được dựa trên các kết quả có thể nhìn thấy (chủ yếu là điểm thi và kiểm tra).TS Nguyễn Công Khanh (2012) đã đưa ra định nghĩa toàn diện, tổng quát về năng lực của HS phổ thông: “Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống. Năng lực của HS là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng,….
Mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội.thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội.” Về cấu trúc của năng lực GQVĐ, từ thế kỷ XX, các nhà giáo dục Đức đã thống nhất năng lực GQVĐ là kết hợp của 4 năng lực thành phần sau: Hình 1. Các thành phần cấu trúc của năng lực 14 Trong đó: - Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lô gic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình. Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội dung chuyên môn”, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn.
- Năng lực phƣơng pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và năng lực phương pháp chuyên môn. Trung tâm của năng lực phương pháp là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. - Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.
- Năng lực cá thể (Individual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi. Năng lực giải quyết vấn đề 1. Khái niệm vấn đề Theo Lê Ngọc Sơn (2008:25): “Vấn đề là một bài toán, một câu hỏi hay 15 một đòi hỏi yêu cầu hành động giải quyết, đòi hỏi một cá nhân hay một nhóm đưa ra cách giải, câu trả lời, các hành động phải tiến hành, mà chưa biết con đường nào dẫn tới kết quả” Như vậy, vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật sẵn cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đử giải quyết mà còn khó khăn, cản trở cần vượt qua. Một vấn đề được đặc trưng bởi ba phần: - Trạng thái xuất phát: không mong muốn; - Trạng thái đích: trạng thái mong muốn; - Sự cản trở.
Cấu trúc vấn đề Trạng thái Sự cản Trạng thái xuất phát trở đích Vấn đề khác với nhiệm vụ thông thường ở chỗ khi giải quyết một nhiệm vụ thì đã có sẵn trình tự và cách giải quyết, cũng như những kiến thức kỹ năng đã có đử để giải quyết nhiệm vụ đó. Tình huống có vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục đích muốn đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết cách nào, chưa đủ phương tiện (kỹ năng, tri thức…) để giải quyết. Năng lực giải quyết vấn đề Quá trình GQVĐ là quá trình HS vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã được học để tìm ra phương hướng GQVĐ đó. Mỗi nhà giáo dục lại có một cách phân chia các giai đoạn của việc GQVĐ khác nhau.
De 16 Cecco chia việc GQVĐ làm 5 giai đoạn, GS. Meier chia làm 8 giai đoạn hay GS. Trần Văn Hà chia làm 4 giai đoạn. Một trong những cách phân chia được sử dụng khá nhiều là cách phân chia của Kudriasev, theo đó, GQVĐ được chia ra làm 4 giai đoạn bao gồm: - Bước 1: Vấn đề xuất hiện; - Bước 2: Nhận thức vấn đề; - Bước 3: Tìm kiếm phương án giải quyết; - Bước 4: Giải quyết vấn đề Đến cuối thế kỷ XIX, John Dewey đã đề ra một phương thức khoa học mới để GQVĐ đã được nhiều người áp dụng.
Ông gọi phương thức này là Phương thức Tư duy Toàn diện, gồm 5 bước : Tìm hiểu vấn đề; Xác định vấn đề; Xác định các phương hướng GQVĐ; Đánh giá các phương hướng GQVĐ; Áp dụng phương hướng tối ưu. Như vậy, ta có thể thấy rằng, dù chia theo cách nào, GQVĐ luôn có 3 bước cơ bản sau: Sơ đồ cấu trúc quá trình GQVĐ 1. NHẬN BIẾT VẤN ĐỀ - Đánh giá tình huống. - Nhận biết vấn đề.
TÌM CÁC PHƢƠNG ÁN GIẢI QUYẾT - So sánh với các nhiệm vụ đã giải quyết. - Tìm cách GQVĐ mới. - Hệ thống hóa, sắp xếp các phương án giải quyết. QUYẾT ĐỊNH PHƢƠNG ÁN (GQVĐ) - Phân tích các phương án.
- Đánh giá các phương án. 17 Bƣớc 1: Nhận biết vấn đề Trong bước này cần phân tích tình huống đặt ra, nhằm nhận biết được vấn đề. Trong dạy học thì đó là cần đặt HS vào tình huống có vấn đề. Vấn đề cần được trình bày rõ ràng, còn gọi là phát biểu vấn đề.
Bƣớc 2: Tìm các phƣơng án giải quyết Nhiệm vụ của bước này là tìm các phương án khác nhau để GQVĐ. Để tìm các phương án GQVĐ, cần so sánh, liên hệ với những cách GQVĐ tương tự đã biết cũng như tìm các phương án giải quyết mới. Các phương án giải quyết đã tìm ra cần được sắp xếp, hệ thống hóa để xử lý ở giai đoạn tiếp theo. Khi có khó khăn hoặc không tìm được phương án giải quyết thì cần trở lại việc nhận biết vấn đề để kiểm tra lại việc nhận biết và hiểu vấn đề.