CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Khái niệm trí thông minh (trí khôn) đã được nghiên cứu cách đây khoảng một trăm năm. Nói chung, sự thông minh phức hợp bao gồm năng lực của một người về logic, hiểu biết, tự nhận thức, học tập, kiến thức tình cảm, lập kế hoạch, sáng tạo giải vấn đề.
Trong đó, người ta định lượng sự thông minh của cá nhân bằng chỉ số thông minh hay IQ - một khái niệm được nhà khoa học người Anh - Francis Galton đưa ra trong cuốn sách Hereditary Genius xuất bản vào cuối kỷ 19. Sau đó, năm 1905, nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet lần đầu tiên đưa ra một bảng test làm thước đo về “độ thông minh”, với mục đích phân loại học sinh thành những nhóm tương đương về trí tuệ để thuận tiện cho việc đào tạo, phát triển bằng việc thảo ra những bài kiểm tra trắc nghiệm để kiểm tra năng lực trí tuệ của trẻ khi đi học. Năm 1912, nhà triết học và tâm lý học người Đức William Stern cho ra đời thuật ngữ IQ (intelligence quotient). Ông đã sử dụng thương số giữa tuổi trí tuệ (phản ánh mức độ phát triển trí tuệ của một người) với tuổi sinh học (tuổi thực tế của người đó) để tính toán sự phát triển trí tuệ của một cá nhân.
Kế tiếp, vào năm 1916, Lewis M. Terman, nhà Tâm lý học ở Trường Đại học Stanford đã cải tiến bài trắc nghiệm gồm những câu phức tạp hơn để dùng cho người trưởng thành và đặt tên là “bài trắc nghiệm chỉ số thông minh Stanford-Binet”. Bằng việc nhân thương số trên với 100 để bỏ bớt số lẻ sau dấu thập phân, bài kiểm tra chỉ số IQ đã được công nhận và sử dụng rộng rãi. Nó nhanh chóng trở nên thông dụng trên khắp nước Mỹ và toàn thế giới.
6 Năm 1983, tiến sĩ Howard Gardner - một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard, đã xuất bản cuốn sách có nhan đề Frames of Mind - Theory of Multiple Intelligences, trong đó ông công bố các nghiên cứu lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh. Theo Gardner, trí thông minh được ông quan niệm “là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” [19] và trí thông minh có những thay đổi lớn với tính chất đa dạng hơn khi chuyển từ đơn trí tuệ sang đa trí tuệ. Bên cạnh đó, sau khi ra đời, thuyết đa trí tuệ Howard Gardner nhận về vô số ý kiến đồng tình ủng hộ và hoài nghi về tính thực tiễn của nó. Tuy nhiên, các nhà giáo dục đã có hướng vận dụng hợp lý, linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở của thuyết đa trí tuệ, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả giảng dạy, phát triển tối đa năng lực người học.
Từ khi ra đời năm 1983 cho đến nay, thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner đã được nghiên cứu và ứng dụng vào các hoạt động với cấp độ khác nhau ở nhiều nước trên thế giới. Một số quốc gia và tổ chức quốc tế đã ứng dụng thuyết đa trí tuệ vào việc hoạch định chính sách (như Australia, Canada, Trung Quốc,…). Thuyết này còn là đối tượng nghiên cứu học thuật trong các trường đại học trên thế giới và phát huy tác dụng trong đời sống văn hóa quần chúng ở nhiều nước (Ví dụ, ở Trung Quốc, Hội Giáo dục đa trí tuệ vận động quảng bá thuyết đa trí tuệ thông qua hội thảo, bài báo, truyền thanh, truyền hình,… Đan Mạch đã xây dựng “Công viên đa chủ đề”, “Bảo tàng tương tác đa trí tuệ”…). Đặc biệt, thuyết đa trí tuệ được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực giáo dục với nhiều lứa tuổi khác nhau.
Thuyết này đã được tích hợp vào các sáng kiến giáo dục với quy mô quốc gia tại nhiều nước và có tác động tích cực đến hiệu quả giáo dục cũng như tới chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên. Không những thế, trên thế giới có rất nhiều nhà tâm lý học, nhà giáo dục đã thử ứng dụng lí thuyết đa trí tuệ vào quá trình nghiên cứu của mình. Nhà giáo dục Thomas Armstrong đã ứng dụng thành công một phần thuyết đa trí tuệ của H. Gardner vào việc giảng dạy và giáo dục.
Sau khi nghiên cứu và đưa ra thử nghiệm, ông đã đề xuất chiến lược dạy học cho từng loại trí tuệ riêng biệt, tiến hành xây dựng môi trường lớp học đa trí tuệ, trường học đa trí tuệ. Từ những nghiên cứu của mình, Armstrong khẳng định: “Học sinh có sự khác biệt về thiên hướng trí tuệ nên giáo viên cần ứng dụng nhiều chiến 7 lược dạy học khác nhau”[1]. Sau đó, ông đã viết nhiều cuốn sách nổi tiếng như: 7 loại hình trí thông minh, Bạn thông minh hơn bạn nghĩ, Đa trí tuệ trong lớp học… để xác thực những nghiên cứu của mình và đưa thuyết đa trí tuệ đến với bạn đọc nhiều hơn. Những cuốn sách này chủ yếu viết về vấn đề giáo dục và hướng dẫn cha mẹ giáo dục con cái, giúp giáo viên dạy học theo phương pháp phù hợp nhằm phát huy năng lực trí tuệ của con em mình.
Ở Việt Nam Có rất nhiều người quan tâm đến thuyết đa trí tuệ và thực hiện các công trình nghiên cứu, luận văn, bài báo về nó. Trong cuốn Giáo trình Giáo dục học do Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành, Nguyễn Thị Hường (2016) có nhắc đến “Theo Thomas Armstrong, có thể vận dụng Thuyết đa trí tuệ vào dạy học hiệu quả, trước hết giáo viên phải hiểu sâu sắc, phân loại được một cách tương đối rõ về trí tuệ của mỗi học sinh. Điều này cho thấy rằng, về lý thuyết, mỗi học sinh đều có đủ 8 dạng trí tuệ, phát triển chúng tới mức độ hợp lý, học sinh thường hay bộc lộ những thiên hướng phát triển các trí tuệ đặc trưng nào đó. Tác giả Nguyễn Thị Mai Lan đã dẫn chứng trong đề tài “Ứng dụng lý thuyết trí tuệ đa nhân tố của Howard Gradner vào việc tìm hiểu các loại hình trí tuệ của học sinh tiểu học”, bàn về các chiến lược ứng dụng thuyết đa trí tuệ trong giáo dục học sinh Tiểu học, cho rằng:“Thuyết Đa trí tuệ đã mang lại một cái nhìn nhân văn và cần thiết nhằm kêu gọi nhà trường và giáo viên nên coi trọng sự đa dạng về trí tuệ của học sinh.
Mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi học sinh đều có những thế mạnh, điểm yếu khác nhau. Nhà trường cần hỗ trợ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện cho học sinh được học tập theo hướng phát huy thế mạnh của chính bản thân mình”[17]. Năm 2011, cuốn sách Đa trí tuệ trong lớp học do Lê Quang Long dịch đã có mặt trong bộ sách đổi mới PPDH.[2] Trước đó, một số quyển sách viết về thuyết đa trí tuệ cũng được biên dịch nhưng chưa đề cập đến việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học. Nhiều bài báo, trang mạng về giáo dục trẻ em cũng có đưa bài về “lý thuyết đa trí tuệ” tuy nhiên mới chỉ ở mức giới thiệu (mô tả 8 loại hình trí thông minh, đặc điểm của từng dạng trí thông minh) và hướng dẫn cách thức để phát hiện và bồi dưỡng trí thông 8 minh cho trẻ.
Ngoài ra, những bài viết này không đi nghiên cứu sâu về thuyết đa trí tuệ nên chưa thể làm rõ hay áp dụng vào quá trình dạy học. Một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, đề tài nghiên cứu đã vận dụng thuyết đa trí tuệ vào các lĩnh vực đổi mới PPDH, sử dụng phương thức dạy học trong giáo dục Đại học, giáo dục Tiểu học,… như tác giả Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Võ Thanh Hà, Phạm Việt Quỳnh cũng được công nhận là có đóng góp tích cực. Điển hình như tiến sĩ Đặng Thị Thu Thủy với hơn ba mươi năm công tác trong ngành giáo dục, là tác giả của hơn ba mươi đầu sách tham khảo về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, sách về bản đồ tư duy cho cả 3 cấp học (Tiểu học, THCS, THPT), phương tiện dạy học, kiểm tra đánh giá,… Đặc biệt bà là người đam mê, cháy hết mình trong những giờ giảng, giờ thuyết trình về thuyết trí thông minh đa dạng (đa trí tuệ) trong giáo dục học sinh, phong cách học tập của học sinh, về tạo động lực, niềm tin cho tuổi trẻ,… Tuy nhiên, so với thế giới thì nghiên cứu thuyết đa trí tuệ Howard Gardner vận dụng giảng dạy Việt Nam chưa thực phổ biến. Trong năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam có nghiên cứu về vấn đề này như Võ Thanh Hà thực hiện đề tài “Nghiên cứu lý thuyết đa trí tuệ (đa trí thông minh - multiple intelligences)”[12] với khả năng ứng dụng vào giáo dục cấp Tiểu học.
Bên cạnh đó, nhiều đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ tập trung nghiên cứu ứng dụng thuyết vào quá trình dạy học những nội dung cụ thể. Mặc dù vậy, giáo dục nước ta về thuyết đa trí tuệ vẫn còn xa lạ với đại đa số người dạy và người học. Có thể thấy mục đích đổi mới giáo dục Việt Nam, cụ thể Giáo dục Tiểu học và thuyết đa trí tuệ Howard Gardner có nhiều nét tương quan với nhau. Bởi, học thuyết Gardner giúp người dạy hiểu và vận dụng tốt tri thức, từ đó mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học Tiểu học ở nước ta.
Chính vì vậy, thuyết đa trí tuệ là thứ cần trang bị cho các nhà sư phạm. Khái quát vấn đề nghiên cứu 1. Một số quan niệm về trí tuệ Th.S Nguyễn Thị Hiền, bài viết trên tạp chí Khoa học Giáo dục, số 64, 2011 có viết: “Trí tuệ không phải là một loại thuộc tính cá nhân có thể quan sát được một cách trực tiếp, khách quan như chiều cao, cân nặng của một con người…Trí tuệ (intellect) là 9 khái niệm xuất phát từ tiếng Latinh (hiểu, nắm được ý nghĩa) dùng để chỉ năng lực chung tạo ra và sử dụng những tri thức nhờ hiểu biết và tư duy trong các mối quan hệ” [14]. Ngoài ra, trí tuệ còn được hiểu là khả năng suy nghĩ và hành động sử dụng kiến thức, kinh nghiệm, sự hiểu biết, ý thức chung và cái nhìn sâu sắc của con người.
Việc nhận định trí tuệ của một cá nhân không thể thực hiện thông qua bằng cấp mà cần thông qua khả năng tư duy sáng tạo của mỗi người. Hay có thể hiểu đơn giản rằng, trí tuệ là kết quả của quá trình trao đổi hoạt động tri thức dựa trên nền tảng của lý trí.