Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dẫn nhập Chương này trình bày một cách tổng quan có lựa chọn các công trình nghiên cứu liên quan đến cảnh huống ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ từ các quan điểm khác nhau và xác định cơ sở lí thuyết cho đề tài từ những nghiên cứu mang tính lý luận về cảnh huống ngôn ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ, song ngữ / đa ngữ, năng lực giao tiếp, thái độ ngôn ngữ, vấn đề giáo dục ngôn ngữ ở vùng đồng bào DTTS, vấn đề truyền thông ở vùng đồng bào DTTS. Ngoài ra, chương này còn đưa ra các cơ sở thực tế cho đề tài. Đó là các đặc điểm khái quát về tự nhiên, kinh tế xã hội, dân cư,.
ở địa bàn khảo sát. Nội dung của chương được chia làm 2 phần chính: phần 1 trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu, phần 2 là cơ sở lí thuyết và cơ sở thực tiễn. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Vấn đề nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất đối với con người, đồng thời nó cũng là công cụ của tư duy, là một thành tố không thể thiếu của văn hóa.
Nhìn vào ngôn ngữ của một dân tộc, chúng ta biết được những đặc trưng trong văn hóa, đời sống của dân tộc ấy. Bởi lẽ, ngôn ngữ là một trong những tiêu chí để xác định thành phần dân tộc. Việc xác định được tình hình sử dụng ngôn ngữ, cảnh huống ngôn ngữ của một dân tộc, một địa phương cụ thể có thể giúp hoạch định được đường lối, chính sách phát triển ngôn ngữ cho dân tộc hoặc địa phương đó, từ đó góp phần bảo tồn, phát triển bền vững vùng DTTS. Từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình, bài viết của các tác giả nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ.
Trên thế giới, một số tên tuổi đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu này là A. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ju với các công trình Những vấn đề dân tộc - ngôn ngữ ở Liên bang Nga; Cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ ở Liên Bang Nga. Trạng thái và viễn cảnh. Những công trình này đã trở thành những tài liệu tham khảo quý cho giới ngôn ngữ học, khi các tác giả đã phân tích những đặc điểm trong cảnh huống ngôn ngữ, đồng thời đi sâu tìm hiểu về các chính sách ngôn ngữ ở một quốc gia đông dân tộc như Liên bang Nga.
Hall, nghiên cứu cảnh huống ở các cộng đồng song ngữ cần tập trung một số nội dung sau đây: - Hoàn cảnh, trong đó xuất hiện các trạng thái song ngữ như: 1) Việc cùng tồn tại các nhóm thuộc hai đơn vị ngôn ngữ khác nhau; 2) Áp lực của nhóm này đối với một nhóm khác (thực dân hóa); 3) Nhu cầu tiếp xúc với thế giới bên ngoài thuộc các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, v.v… - Các điều kiện làm cho song ngữ phát triển như: 1) Các ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ (thực dân hóa); 2) Các ngôn ngữ thân thuộc; 3) Các ngôn ngữ thân thuộc gần hơn; 4) Các ngôn ngữ chuẩn hóa có liên hệ chặt chẽ với nhau; 5) Các ngôn ngữ chưa chuẩn hóa có liên hệ chặt chẽ với nhau. - Tình hình ở các quốc gia đa ngữ gồm: 1) Số lượng người nói ngôn ngữ hay ngôn ngữ khác như nhau; 2) Số lượng người nói ngôn ngữ thứ hai nhiều hơn số lượng người nói ngôn ngữ thứ nhất (TMĐ); 3) Số lượng người nói ngôn ngữ thứ nhất (TMĐ) đông hơn số lượng người nói ngôn ngữ thứ hai. - Ý nghĩa của tác động qua lại giữa các nhóm ngôn ngữ. Cụ thể: 1) Sự tác động qua lại trên cơ sở bình đẳng về chính trị và bình đẳng truớc pháp luật; 2) Sự tác động qua lại trên cơ sở bình đẳng về chính trị nhưng không bình đẳng truớc pháp luật.
- Ảnh hưởng của các nhân tố tập trung của người nói đối với ngôn ngữ thứ hai. Các nhà ngôn ngữ học xã hội đã dựa vào các quan niệm trên để đưa ra ba tiêu chí tổng hợp về cảnh huống ngôn ngữ, đó là: tiêu chí về lượng, tiêu chí về chất và tiêu chí về thái độ ngôn ngữ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tiêu chí về lượng gồm: Số lượng ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ, số lượng biến thể ngôn ngữ trong xã hội đa phương ngữ; Số lượng người sử dụng từng ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ trong quan hệ với số lượng chung cư dân khu vực đó; Phạm vi giao tiếp của từng ngôn ngữ trong quan hệ chung với số lượng các phạm vi giao tiếp; Số lượng ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ nổi trội về mặt chức năng. - Tiêu chí về chất gồm các thông số: Các ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ có phải là biến thể của một ngôn ngữ, hay là các ngôn ngữ độc lập; Quan hệ giữa các ngôn ngữ về cấu trúc và cội nguồn: các ngôn ngữ giống nhau hay khác nhau về loại hình, cội nguồn, mức độ quan hệ cội nguồn; Tính chất cân bằng hay không cân bằng về chức năng của các ngôn ngữ.
- Tiêu chí về thái độ ngôn ngữ thể hiện thái độ của cư dân đối với với từng ngôn ngữ, biến thể của ngôn ngữ của cộng đồng mình hay cộng đồng khác về tính hữu ích, giá trị văn hóa Ở Việt Nam, nghiên cứu ngôn ngữ DTTS từ lâu đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà khoa học. Lĩnh vực này không chỉ thu hút những chuyên gia về ngôn ngữ học mà còn tập hợp được một đội ngũ những nhà nghiên cứu từ khắp các chuyên ngành khác nhau. Trong đó, nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ luôn được các nhà khoa học quan tâm. Năm 2002, Viện Ngôn ngữ học cho xuất bản công trình Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam.
Trong tài liệu này, các tác giả đã phân tích, đánh giá một cách kĩ lưỡng, khảo sát cụ thể tỉ mỉ nhằm đưa ra những đặc điểm về cảnh huống trong bức tranh ngôn ngữ ở nước ta. Nguyễn Đức Tồn với công trình Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế (2016) đã đưa ra khá đầy đủ, hệ thống những cơ sở lí luận, thực tiễn, kinh nghiệm về lĩnh vực nghiên cứu này ở hai nước Liên bang Nga và Việt Nam. Tác giả đã chỉ ra những đặc điểm về cảnh huống ngôn ngữ của 3 vùng Đông Bắc, Trung Bộ, Nam Bộ, từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp đối Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam. Tuy vậy, công trình này mới chỉ nghiên cứu dựa trên một vài trường hợp cụ thể (như Thái Nguyên, Hà Giang, Đắc Lăk) mà chưa nghiên cứu sâu bức tranh chung về cảnh huống ngôn ngữ của một khu vực nhỏ hơn địa giới tỉnh (các huyện).
Ngôn ngữ, chữ viết các DTTS ở Việt Nam (những vấn đề chung) (2016) do các tác giả Nguyễn Hữu Hoành, Nguyễn Văn Lợi, Tạ Văn Thông biên soạn đã dành một dung lượng khá lớn trình bày về cảnh huống ngôn ngữ các DTTS ở Việt Nam. Các tác giả đã trích dẫn nhiều khái niệm cảnh huống ngôn ngữ của một số nhà nghiên cứu, từ đó chỉ ra rõ các nội dung của cảnh huống ngôn ngữ nói chung. Các tác giả cũng đi sâu phân tích các đặc điểm của cảnh huống ngôn ngữ Việt Nam như đặc điểm về số lượng dân tộc, ngôn ngữ, đặc điểm về quan hệ cội nguồn, loại hình, đặc điểm về sự hình thành và phát triển của các dân tộc, ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ ở các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam. Tuy vậy, đây đều là những cơ sở lí luận chung, tập thể tác giả chưa đi sâu nghiên cứu tình hình sử dụng ngôn ngữ ở một địa bàn cụ thể.
Nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ ở một địa phương cụ thể gần đây cũng đã có nhiều công trình khoa học, đặc biệt là những nghiên cứu của các học viên cao học, nghiên cứu sinh. Ba luận văn Thạc sĩ Cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang (Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2001) Cảnh huống ngôn ngữ ở Thái Nguyên ( Dương Thị Thanh Hoa, 2010), Cảnh huống ngôn ngữ ở huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu (Nguyễn Thái Dũng, 2015) cùng với bài báo Một vài đặc điểm về cảnh huống ngôn ngữ ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (Bùi Thanh Hoa) và khóa luận tốt nghiệp Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Nùng ở huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang (Nông Thị Ánh, 2018) là những công trình đã nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ ở một địa phương, cụ thể là trong phạm vi một huyện, tỉnh. Các tác giả đã chỉ ra tình hình sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc tại các địa phương Hà Giang, Thái Nguyên, Yên Thế, Thuận Châu,. trong các hoàn cảnh, với các mục đích khác nhau như giao tiếp, học tập, giáo dục, buôn bán, truyền thông.
từ đó phân tích, lí giải nguyên nhân và đưa ra một số kiến nghị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về chính sách ngôn ngữ. Những công trình này có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách đưa ra những biện pháp cụ thể về chính sách ngôn ngữ ở các địa phương kể trên. Là một trong những đặc điểm quan trọng trong việc xác lập cảnh huống ngôn ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ cũng là một đối tượng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm như Hoàng Văn Ma với Cảnh huống tiếng Nùng (2002); Phạm Văn Hảo, Vũ Bá Hùng và Hà Quang Năng với bài nghiên cứu Cảnh huống tiếng Thái (2002),. Nguyễn Hữu Hoành đã cho công bố nhiều bài viết như Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Hmông, Tình hình giao tiếp ngôn ngữ của các DTTS trên địa bàn xã Noong Lay, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Hay như tác giả Tạ Văn Thông với bài Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong trường tiểu học Chiềng Xôm; Tạ Văn Thông và Nguyễn Hữu Hoành với bài Đời sống ngôn ngữ của người Dao cũng là những nghiên cứu có nhiều đóng góp.