Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ tại các cộng đồng dân tộc thiểu số đặc biệt ít người đóng vai trò then chốt trong công tác hoạch định chính sách dân tộc và bảo tồn di sản phi vật thể. Cộng đồng người Nùng Vẻn tại bản Cả Tiểng, xã Nội Thôn, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tính đến năm 2018 chỉ có 205 nhân khẩu với 43 hộ gia đình sinh sống tập trung. Mặc dù được xếp vào dân tộc Nùng theo danh mục thành phần tộc người, tiếng nói của người Nùng Vẻn lại thuộc chi Ka Đai thuộc ngữ hệ Tai - Ka Đai, hoàn toàn khác biệt với các phương ngữ Nùng khác thuộc chi Kam - Tai.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự đe dọa mai một nghiêm trọng của tiếng Nùng Vẻn dưới sức ép từ tiếng Việt và ngôn ngữ vùng chiếm ưu thế như tiếng Nùng, tiếng Tày. Ngôn ngữ này chưa có hệ thống chữ viết, việc lưu truyền phụ thuộc hoàn toàn vào trí nhớ và hình thức truyền khẩu của các nghệ nhân cao tuổi. Mục tiêu nghiên cứu nhằm mô tả toàn diện thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong sinh hoạt thường nhật, trường học và truyền thông; đánh giá năng lực ngôn ngữ theo các biến số nhân khẩu học; đồng thời đề xuất giải pháp khả thi nhằm bảo tồn ngôn ngữ có nguy cơ biến mất.

Phạm vi không gian tập trung tại xã Nội Thôn, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với mốc thời gian khảo sát điền dã được thực hiện qua hai giai đoạn từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng chuẩn xác, phục vụ trực tiếp cho Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước về bảo tồn các ngôn ngữ dân tộc thiểu số có nguy cơ mai một tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cảnh huống ngôn ngữ của các tác giả T. Mikhailchenko, T. Kriuchkova và nhóm tác giả Nguyễn Hữu Hoành, Nguyễn Văn Lợi, Tạ Văn Thông. Cảnh huống ngôn ngữ được xác lập qua mối quan hệ tương hỗ giữa yếu tố nhân khẩu, cấu trúc ngôn ngữ, trạng thái hành chức và thái độ ngôn ngữ của cộng đồng.

Nghiên cứu tích hợp lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và song ngữ, đa ngữ của Edward Sapir, William Bright và Nguyễn Văn Khang. Khung lý thuyết này phân tích sự phân bố chức năng giữa ngôn ngữ vị thế cao và ngôn ngữ vị thế thấp trong môi trường đa ngữ. Đồng thời, lý thuyết năng lực giao tiếp của Dell Hymes và Beautier-Casting được vận dụng để phân loại các bậc năng lực ngôn ngữ thành 5 cấp độ từ chưa biết đến nghe nói thạo và biết chữ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát cỡ mẫu gồm 156 người Nùng Vẻn từ 6 tuổi trở lên, chiếm 76,1% tổng dân số của cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu. Mẫu khảo sát được phân tầng theo giới tính với 79 nam (chiếm 50,6%) và 77 nữ (chiếm 49,4%), bảo đảm tính đại diện cấu trúc dân số học. Nhóm tuổi được chia thành 3 nhóm: dưới 26 tuổi gồm 53 người (34%), từ 26 đến 50 tuổi gồm 53 người (34%), và trên 50 tuổi gồm 50 người (32%). Trình độ học vấn phân bổ từ chưa đi học (17,3%), tiểu học (19,9%), trung học cơ sở (30,8%), trung học phổ thông (23,1%) đến cao đẳng và đại học (8,9%).

Phương pháp điều tra xã hội ngôn ngữ học kết hợp điền dã dân tộc học được lựa chọn vì tính chính xác cao trong thu thập dữ liệu phi văn tự. Kỹ thuật thu thập bao gồm bảng hỏi cấu trúc 5 mức năng lực, phỏng vấn sâu 15 mẫu đại diện và quan sát tham dự tại các không gian giao tiếp tự nhiên. Dữ liệu định lượng được phân tích thống kê mô tả, phân loại chéo nhằm nhận diện mối liên hệ giữa các biến nhân khẩu học và mức độ sử dụng ngôn ngữ. Thời gian điền dã đợt 1 diễn ra từ ngày 01/11/2018 đến 15/11/2018, đợt 2 từ ngày 21/7/2019 đến 05/8/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa chỉ ra 4 phát hiện căn bản về thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người Nùng Vẻn:

Thứ nhất, 100% người được khảo sát (156/156 người) nghe nói thành thạo tiếng Nùng Vẻn trong giao tiếp gia đình, nhưng 100% không biết chữ tiếng mẹ đẻ do không có hệ thống chữ viết. Tiếng mẹ đẻ giữ vị trí độc tôn tuyệt đối với 100% người sử dụng khi nói chuyện với vợ hoặc chồng và trong các nghi lễ cúng tế truyền thống.

Thứ hai, độ phủ của tiếng Việt đạt 96,8% (151/156 người), trong đó tỷ lệ nghe nói thạo và biết chữ đạt 79,4% (124/156 người). Tỷ lệ đơn ngữ tiếng mẹ đẻ hoàn toàn không biết tiếng Việt chỉ chiếm 3,2% (5 người), toàn bộ thuộc nhóm phụ nữ trên 60 tuổi không qua trường lớp chính quy.

Thứ ba, tồn tại sự chênh lệch rõ rệt về năng lực ngôn ngữ theo giới tính và độ tuổi. Tỷ lệ biết chữ tiếng Việt ở nam giới đạt 88,6%, vượt trội so với nữ giới ở mức 70,1%. Nhóm tuổi dưới 26 đạt 100% khả năng nghe nói thạo và biết chữ tiếng Việt, trong khi nhóm trên 50 tuổi chỉ đạt 56%, cho thấy năng lực tiếng Việt tỷ lệ nghịch với độ tuổi.

Thứ tư, hiện tượng đa ngữ với tiếng Nùng và tiếng Tày diễn ra phổ biến ở người cao tuổi. Có 37,2% tổng số mẫu khảo sát (58 người) nghe nói thạo ngôn ngữ vùng lân cận. Tỷ lệ này ở nhóm trên 50 tuổi lên tới 70%, nhưng giảm mạnh xuống chỉ còn 3,6% ở nhóm thanh thiếu niên dưới 26 tuổi.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bố chức năng phản ánh quy luật tiếp xúc ngôn ngữ đặc trưng ở vùng cao biên giới. Tiếng Nùng Vẻn đóng vai trò ngôn ngữ nội bộ gia đình, làng bản nhờ tập quán hôn nhân nội tộc chiếm đa số. Khi phụ nữ các dân tộc khác về làm dâu tại Cả Tiểng, họ nhanh chóng tiếp thu tiếng Vẻn trong vòng 1 đến 2 năm để hòa nhập đời sống sinh hoạt. Ngược lại, tiếng Việt khẳng định vai trò ngôn ngữ giao tiếp xã hội, chiếm 96,8% trong giao tiếp với khách người Kinh và 48% tại các cuộc họp hành chính ở ủy ban nhân dân xã.

Khoảng cách giới tính trong năng lực tiếng Việt bắt nguồn từ cơ hội tiếp cận giáo dục trong quá khứ. Phụ nữ lớn tuổi ít có điều kiện rời khỏi thung lũng Cả Tiểng nên ít tiếp xúc với môi trường tiếng Việt. Dữ liệu phân tầng này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột kép so sánh năng lực đọc viết giữa hai giới, kết hợp biểu đồ đường thể hiện sự suy giảm khả năng sử dụng tiếng Nùng, tiếng Tày của thế hệ trẻ khi tiếng Việt dần thay thế vị trí ngôn ngữ giao tiếp liên dân tộc.

So sánh với các nghiên cứu của Jerold A. Edmondson và cộng sự (năm 2001) về từ vựng đối chiếu với 230/557 từ cơ bản chung với tiếng Tày, Nùng (chiếm 41%), luận văn làm sáng tỏ thêm khía cạnh xã hội: tiếng Nùng Vẻn đang chịu sức ép đồng hóa kép từ cả ngôn ngữ quốc gia lẫn các ngôn ngữ địa phương có dân số áp đảo.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát, luận văn xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ và bảo tồn tiếng Nùng Vẻn:

  1. Xây dựng hệ thống chữ viết phiên âm tiếng Nùng Vẻn dựa trên ký tự Latin: Viện Ngôn ngữ học chủ trì phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cao Bằng hoàn thành bộ ký tự ghi âm và xuất bản từ điển đối chiếu Nùng Vẻn - Việt trong giai đoạn 2026 - 2028. Mục tiêu số hóa 100% kho tàng bài mo cúng truyền khẩu và 1.000 mục từ vựng căn bản trước nguy cơ các nghệ nhân cao tuổi qua đời.

  2. Áp dụng mô hình chuẩn bị tiếng Việt có sử dụng tiếng mẹ đẻ bổ trợ: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hà Quảng chỉ đạo trường Mầm non và Tiểu học xã Nội Thôn triển khai chương trình tăng cường tiếng Việt cho 100% học sinh Nùng Vẻn trước tuổi đến trường. Giáo viên cần tận dụng tiếng Nùng Vẻn làm công cụ giải thích trung gian trong 2 năm học đầu cấp nhằm giảm tỷ lệ tái mù chữ ở học sinh.

  3. Mở các lớp xóa mù chữ linh hoạt cho phụ nữ nông thôn: Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Nội Thôn kết hợp với Đoàn thanh niên tổ chức các lớp học buổi tối tại nhà văn hóa bản Cả Tiểng từ năm 2026. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ biết chữ ở nữ giới từ 70,1% lên 90% trong vòng 3 năm, tập trung vào kỹ năng đọc văn bản hành chính và thông tin kỹ thuật nông nghiệp.

  4. Nâng cấp hệ thống truyền thanh cơ sở và sản xuất nội dung song ngữ: Trung tâm Văn hóa và Truyền thông huyện Hà Quảng đầu tư hạ tầng loa truyền thanh thông minh tại bản Cả Tiểng trước quý IV năm 2026. Định kỳ phát sóng các bản tin khuyến nông bằng tiếng dân tộc thiểu số, đảm bảo 100% hộ gia đình tiếp cận thông tin chính sách phát triển kinh tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Các nhà nghiên cứu Ngôn ngữ học và Dân tộc học: Luận văn cung cấp nguồn ngữ liệu điền dã quý giá về chi Ka Đai cực kỳ hiếm gặp, làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu cấu trúc, phân loại loại hình ngôn ngữ và lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ khu vực Đông Nam Á.

  2. Cán bộ hoạch định chính sách dân tộc và văn hóa: Cung cấp bức tranh thực địa chi tiết với các con số định lượng cụ thể, giúp các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng chính sách bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số có số dân dưới 1.000 người.

  3. Cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên vùng cao: Tài liệu tham khảo hữu ích giúp thiết kế bài giảng, lựa chọn phương pháp sư phạm song ngữ và xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số.

  4. Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Xã hội: Nguồn tham khảo mẫu mực về phương pháp luận điền dã ngôn ngữ học xã hội, cách thiết kế bảng hỏi khảo sát, kỹ thuật xử lý dữ liệu phân tầng và nghệ thuật trình bày luận văn học thuật chuẩn quy cách.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tiếng Nùng Vẻn có phải là một nhánh của tiếng Nùng hay không? Về mặt phân loại học, tiếng Nùng Vẻn thuộc chi Ka Đai, khác hoàn toàn với các phương ngữ Nùng thông thường thuộc chi Kam - Tai. Dù người Nùng Vẻn mang tộc danh Nùng, ngôn ngữ của họ là một ngôn ngữ độc lập có quan hệ cội nguồn gần gũi với tiếng La Ha, Pu Péo, Cơ Lao và La Chí.

  2. Vì sao 100% người Nùng Vẻn không biết chữ tiếng mẹ đẻ? Do tiếng Nùng Vẻn là ngôn ngữ thuần truyền khẩu, chưa từng có hệ thống văn tự chính thức được sáng tạo hay chuẩn hóa. Mọi tri thức văn hóa, nghi lễ cúng bái và sinh hoạt đời sống đều được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác.

  3. Thực trạng sử dụng tiếng Việt của người Nùng Vẻn hiện nay ra sao? Tiếng Việt chiếm tỷ lệ bao phủ 96,8% trong cộng đồng, với 79,4% người nghe nói thạo và biết chữ. Tiếng Việt là công cụ giao tiếp bắt buộc trong giáo dục, hành chính công quyền và giao thương với các cộng đồng dân tộc khác ngoài bản Cả Tiểng.

  4. Năng lực ngôn ngữ giữa nam giới và nữ giới có sự khác biệt như thế nào? Nam giới có năng lực tiếng Việt vượt trội với 88,6% biết chữ và 57% nghe nói thạo tiếng Nùng, Tày. Trong khi đó, nữ giới chỉ đạt 70,1% biết chữ tiếng Việt và 16,9% thạo tiếng dân tộc khác do điều kiện giao lưu xã hội hạn chế hơn.

  5. Cần làm gì để ngăn chặn nguy cơ mai một của tiếng Nùng Vẻn? Cần khẩn trương xây dựng bộ chữ phiên âm Latin, ghi chép lại các nghi lễ dân gian của các nghệ nhân, đồng thời duy trì không gian văn hóa bản địa song song với việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt thông qua mô hình giáo dục song ngữ linh hoạt.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập bức tranh toàn diện về cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng 205 người Nùng Vẻn tại Cao Bằng, khẳng định vị thế độc lập của tiếng Vẻn thuộc chi Ka Đai.
  • Dữ liệu khảo sát trên 156 người chứng minh tiếng Nùng Vẻn vẫn giữ sức sống bền bỉ trong gia đình (100% nghe nói thạo), nhưng đang chịu sức ép mạnh mẽ từ các ngôn ngữ có vị thế cao hơn.
  • Năng lực tiếng Việt đạt 96,8% nhưng có sự phân hóa sâu sắc theo giới tính (nam 88,6%, nữ 70,1%) và độ tuổi (dưới 26 tuổi đạt 100%, trên 50 tuổi đạt 56%).
  • Công trình đóng góp hệ thống giải pháp liên ngành từ nghiên cứu ngữ âm, biên soạn chữ viết đến đổi mới phương pháp giáo dục song ngữ mầm non và truyền thông đại chúng.
  • Các cơ quan quản lý cần bắt tay triển khai ngay kế hoạch số hóa di sản ngôn ngữ Nùng Vẻn giai đoạn 2026 - 2028 nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.