phần Mở đầu, Tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về tinh giản biên chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện tinh giản biên chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Chƣơng 3: Quan điểm, phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện hoạt động tinh giản biên chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Luan van 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TINH GIẢN BIÊN CHẾ Ở CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Biên chế Biên chế là một thuật ngữ đƣợc sử dụng khá phổ biến trong khu vực công. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này. Biên chế, theo Từ điển Tiếng Việt là “sắp xếp lực lƣợng theo một trật tự, tổ chức nhất định”.
Theo cách hiểu đơn giản biên chế là số ngƣời làm việc vị trí công việc phục vụ lâu dài, vô thời hạn trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nƣớc đƣợc hƣởng các chế độ về lƣơng và phụ cấp do đơn vị quyết định hoặc đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt dƣới sự hƣớng dẫn của Nhà nƣớc. Theo Nghị định số 71/2003/NĐ-CP ngày 19/6/2003 của Chính phủ về phân cấp quản lý biên chế hành chính sự nghiệp nhà nƣớc thì: Biên chế hành chính là số người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các tổ chức giúp bộ trưởng, thứ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, HĐND, UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý hành chính nhà nước được giao”, “biên chế sự nghiệp là số người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức, hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước về giáo dục và đào tạo, khoa học, y tế, văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao và các đơn vị sự nghiệp khác do cơquan có thẩm quyền quyết định thành lập để phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước hoặc để thực hiện một số dịch vụ công của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, và HĐND, UBND cấp tỉnh, cấp huyện theo quy định của pháp luật”. Luan van 14 Theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ thì: “Biên chế” đƣợc hiểu gồm: biên chế cán bộ, biên chế công chức, số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và lao động hợp đồng được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật [8]. Các quan niệm trên đều hƣớng tới một cách hiểu chung rằng biên chế là số nhân lực làm việc, lao động trong các cơ quan nhà nƣớc, các đơn vị, tổ chức của hệ thống chính trị, bao gồm cả lao động hợp đồng, đƣợc cấp có thẩm quyền giao và thuộc biên chế đi liền với hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Nhƣ vậy, xét một cách chung nhất, biên chế là số lượng người làm việc thường xuyên trong cơ quan, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền được duyệt và giao làm căn cứ để cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm của cơ quan. Tinh giản biên chế “Tinh” có ý nghĩa là có chất lƣợng hơn, thuần chất hơn số với vật chất bình thƣờng (chẳng hạn cái phần chất lƣợng nhất của một vật chất đƣợc gọi là tinh túy). "Giản" là giảm bớt, lƣợc bớt, cho nó gọn lại (ví dụ tóm gọn một câu chuyện, một cuốn sách thì gọi là giản lƣợc). Vì vậy “tinh giản” có thể hiểu là làm cho (cái gì hoặc bộ phận nào đó) gọn lại, ít đi nhƣng chất lƣợng hơn.
“Tinh giản” theo Từ điển Tiếng Việt là giảm bớt cho tinh gọn. Bản chất của biên chế chính là số lƣợng ngƣời làm việc chính thức, lâu dài, ổn định thƣờng xuyên gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lƣợng công việc trong một tổ chức. Số lƣợng biên chế do cấp có thẩm quyền quản lý quyết định điều chỉnh, tăng hoặc giảm trong từng giai đoạn, từng thời kỳ nhất định. Trƣớc đây, việc điều chỉnh, tăng hoặc giảm biên chế chỉ căn cứ vào nhu cầu, nhiệm vụ, khối lƣợng công việc, mức độ phức tạp của nhiệm vụ, phạm vi quản lý và thƣờng là theo đề nghị của các cấp, các đơn vị.
Đến nay, theo Luật Cán bộ, Công chức 2008 đã bổ sung thêm một nguyên tắc quan Luan van 15 trọng vào các nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức, viên chức, đó là: việc quản lý cán bộ, công chức, viên chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh và vị trí việc làm. Vị trí việc làm là điểm cơ bản, mấu chốt để đổi mới cơ chế quản lý biên chế, quản lý công chức. Theo quy định của pháp luật về công chức phải căn cứ vào vị trí việc làm để xem xét, quyết định số biên chế trong từng cơ quan, đơn vị, tổ chức. Thông thƣờng, tinh giản biên chế là việc thải hồi hay cho nghỉ việc đối với một số ngƣời đang trong biên chế hay tinh giản biên chế là việc giảm bớt số lƣợng CBCCVC trong các tổ chức nhà nƣớc dẫn đến giảm số lƣợng nhân sự trong toàn hệ thống.
Theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 “Tinh giản biên chế được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế” [8] và đây cũng là cách tiếp cận trong phạm vi Luận văn này. Nhƣ vậy, tinh giản biên chế là cách thức để sàng lọc, đánh giá, phân loại ra khỏi bộ máy những biên chế không cần thiết, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của ngƣời dân, nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thu hút những ngƣời có đức có tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập. Thực chất của tinh giản biên chế là nhằm tạo ra đƣợc bộ máy công quyền hoạt động hiệu quả trên cơ sở cơ cấu tổ chức tinh gọn với số lƣợng nhân sự phù hợp, đƣợc vận hành một cách khoa học để thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ đã đƣợc xác định. Từ góc độ các quan niệm về tinh giản biên chế có thể thấy tinh giản biên chế có một số đặc điểm nhƣ sau: Luan van 16 Thứ nhất, về mục tiêu: Tinh giản biên chế không phải là sự cắt giảm một cách cơ học thuần túy cán bộ, công chức, viên chức ở một vị trí, một bộ phận chuyên môn nào đó mà là cơ cấu lại đội ngũ CBCCVC là sử dụng có hiệu quả nhất đội ngũ CBCCVC; thu hút những ngƣời có đức, có tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan đảng, nhà nƣớc và tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng đƣợc yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và hội nhập quốc tế; góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, tiết kiệm, giảm chi thƣờng xuyên, cải cách chính sách tiền lƣơng.
Thứ hai, hoạt động tinh giản biên chế là một vấn đề hết sức nhạy cảm. Liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích và cuộc sống của cá nhân cán bộ, công chức, viên chức nên khi thực hiện tinh giản biên chế phải hết sức công minh tránh xuất hiện tình trạng nể nang, ngại va chạm, thiếu quyết đoán và chƣa quyết liệt. Thứ ba, tinh giản biên chế do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền thực hiện và luôn gắn liền với công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. Cơ sở của tinh giản là việc đánh giá, đánh giá là công cụ tạo động lực để nâng cao hiệu quả làm việc, đồng thời là công cụ sàng lọc, phân loại những cán bộ, công chức, viên chức không còn phù hợp, không đáp ứng đƣợc yêu cầu công việc.
Xây dựng những thang đo, tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số có khả năng lƣợng hóa về kết quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức; lấy đó làm cơ sở xác định đối tƣợng cần tinh giản một cách khoa học, chính xác và có tính thuyết phục. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thuật ngữ "cơ quan chuyên môn" có rất nhiều cách hiểu khác nhau: Theo Đại từ điển tiếng Việt, cơ quan chuyên môn là “cơ quan chuyên trách một ngành cụ thể của nhà nƣớc”. Tại điều 3, Nghị định 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 quy định: “Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Luan van 17 cấp huyện là cơ quan có nhiệm vụ tham mƣu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực ở địa phƣơng và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phƣơng” [7]. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hƣớng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện gồm có phòng và cơ quan tƣơng đƣơng phòng (sau đây gọi chung là phòng). Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; thực hiện chức năng tham mƣu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực ở địa phƣơng và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phƣơng. Tại Khoản 1 Điều 9 Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng năm 2015, khái niệm cơ quan chuyên môn đƣợc hiểu nhƣ sau: “Cơ quan chuyên môn thuộc UBND đƣợc tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mƣu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực ở địa phƣơng và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nƣớc cấp trên” [19].