Đặt vấn đề Việt Nam có tổng diện tích phần đất liền 330.541km2 kéo dài 15 độ vĩ (từ 8030’ - 23022’ độ vĩ Bắc) và trải rộng trên 7 kinh tuyến (từ 102010’ - 109021’ độ kinh Đông), đồng thời do lịch sử phát triển địa chất đã tạo nên những kiểu địa hình, đai độ cao và vùng khí hậu khác nhau. Đó là những yếu tố làm cho Việt nam có hệ thực vật và thảm thực vật rừng hết sức đa dạng và phong phú. Việt Nam được coi là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về ĐDSH. Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc, Indonesia và Malaysia.
Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có ĐDSH cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới. Theo số liệu thống kê, Việt Nam có khoảng 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch, 1.500 loài tảo và 826 loài nấm.000 loài được nhân dân sử dụng: làm lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyên vật liệu khác. Hệ thực vật Việt Nam chứa đựng 3 luồng di cư chính: từ Nam Trung Quốc xuống, từ Himalaya - Mianma sang và từ Indonesia - Malaysia lên. Hệ thực vật Việt Nam còn có mức độ đặc hữu cao với khoảng 33% số loài thực vật ở miền Bắc Việt Nam (Pocs Tamas, 1965) và hơn 40% tổng số loài thực vật toàn quốc (Thái Văn Trừng, 1978) [22].
ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Vấn đề Bảo tồn ĐDSH có ý nghĩa chiến lược trong thời đại hiện nay. Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janeiro ngày 5 tháng 6 năm 1992 là tiếng chuông thức tỉnh toàn thế giới “Hãy cứu lấy trái đất”, bởi vì sự ĐDSH liên quan đến sự sống của trái đất.
Việt Nam là một trong những trung tâm ĐDSH cao của thế giới, nên vấn đề bảo tồn ĐDSH là một yêu cầu rất cấp bách, đã từ lâu, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới điều đó. 2 Đến nay cả nước ta đã có tới 32 Vườn Quốc gia (VQG) và hàng trăm Vườn quốc gia (VQG) được Nhà nước công nhận. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có quyết định phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện công ước đa ĐDSH và Nghị định thư Caitagena về an toàn sinh học”. Một trong những mục tiêu cụ thể của bản kế hoạch đã được phê duyệt là từ nay đến năm 2010 củng cố hoàn thiện và phát triển hệ thống rừng đặc dụng, bảo vệ có hiệu quả các loài động vật, thực vật quý hiếm, nguy cấp có nguy cơ bị tuyệt chủng, phục hồi hệ sinh thái đã bị suy thoái.
Hệ sinh thái (HST) núi đá vôi Việt Nam tập trung chủ yếu ở một số tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ, với diện tích 1.000 ha, HST núi đá vôi chiếm 6,1% tổng diện tích đất lâm nghiệp, nhưng trong đó chỉ có 396.200 ha rừng, còn lại là núi đá vôi với cây bụi, hay đồi trọc. Mặc dù diện tích rừng của HST núi đá vôi chỉ chiếm 34,4% tổng diện tích núi đá vôi, nhưng tại đây, thời gian qua các nhà khoa học đã phát hiện được nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm, đặc hữu, trong đó đáng chú ý là có một số là loài mới cho khoa học, đặc biệt còn có một chi mới. Trên địa bàn Vườn quốc gia Ba Bể có 26 loài quí hiếm thuộc 24 chi, 20 họ. Trong đó có 16 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam 2007 gồm: cấp EN (nguy cấp) có 6 loài, cấp VU (cấp sẽ bị nguy cấp) có 10 loài.
Có 9 loài được ghi trong danh lục đỏ của IUCN 2009, gồm cấp EN (Nguy cấp) có 3 loài, cấp VU (Sắp nguy cấp) có 2 loài, cấp NT (sắp bị đe dọa) có 1 loài cấp LC (ít được biết đến) có 3 loài. Có 11 loài thuộc Nghị định 32 CP/2006, trong đó nhóm IA có 1 loài, còn lại 10 loài thuộc nhóm IIA. Ngoài ra trên địa bàn Vườn quốc gia Ba Bể có 1 loại đặc hữu là Trúc dây (Ampelocalamus sp). Loài này thuộc Họ cỏ (Poaceae), lợp 1 lá mầm (Liliopsida), thường mọc trên các vách đá quanh Hồ và dọc sông Năng.
Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về tài nguyên thực vật được triển khai tại vườn quốc gia Ba Bể, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ. Vì vậy, chúng tôi đề xuất đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu tính đa dạng các loài thực vật quý hiếm tại vườn quốc gia Ba Bể - huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nhằm đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài” góp phần bảo tồn và phát triển các 3 nguồn gen thực vật quý hiếm, bảo vệ tính đa dạng sinh học trong khu vực và nâng cao vai trò của vườn quốc gia Ba Bể đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Kạn và cộng đồng dân cư sinh sống quanh khu vực này. Mục ti u n i n cứu của đề t i 2. Mục tiêu chung Góp phần nghiên cứu tính đa dạng các loài thực vật quý hiếm làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp bảo vệ cảnh quan và bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm tại Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Mục tiêu cụ thể - Xác định được sự đa dạng các loài thực vật quý hiếm ở khu vực nghiên cứu - Đề xuất các biện pháp bảo tồn thực vật quý hiếm ở khu vực nghiên cứu. 3 Ýn ĩa k oa ọc v t ực tiễn của đề t i 3. Tính khoa học - Góp phần bổ sung thêm số giải pháp trong bảo tồn, nâng cao tính đa dạng thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu 3. Tính thực tiễn - Xác định được tính đa dạng thực vật quý hiếm và các kiểu thảm thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu, làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn và nâng cao đa dạng thực vật quý hiếm tại Vườn quốc gia Ba Bể.
4 Đón óp mới của luận văn - Xác định được thành phần loài, đa dạng sống và yếu tố địa lý của thảm thực vật tại Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. - Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng dựa vào các tài liệu ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2011) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Nghị định 160/2013/NĐ-CP. - Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu. 4 C ƣơn TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Tín cấp t iết của đề t i v cơ sở k oa ọc của n i n cứu 1.
Khái niệm thực vật rừng quý hiếm Thực vật rừng quý hiếm là những loài có giá trị đặc biệt về khoa học, kinh tế và môi trường, có số lượng, trữ lượng ít hoặc đang có nguy cơ bị diệt chủng. Dựa theo tính chất và mức độ quý, hiếm của thực vật rừng, Nghị định số 18/HĐBT đã sắp xếp chúng thành 2 nhóm trong Danh mục thực vật rừng quý, hiếm, cụ thể là: Nhóm I: gồm những loài thực vật (IA) đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lượng, trữ lượng rất ít hoặc đang có nguy cơ diệt chủng. Nhóm II: gồm những loài thực vật có giá trị kinh tế cao đang bị khai thác quá mức, dẫn đến cạn kiệt và có nguy cơ diệt chủng. Trong Danh mục thực vật rừng quý, hiếm năm 1992, ở nhóm IA có 13 loài và nhóm IIA có 19 loài, đến năm 2002 trong Danh mục thực vật rừng quý, hiếm ở nhóm IA có 16 loài và nhóm IIA có 26 loài [7].
Theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP [8] của Chính phủ: về tiêu chí xác định và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ thì các Tiêu chí xác định loài được ưu tiên bảo vệ. Loài thuộc Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ phải đáp ứng các tiêu chí sau: - Số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng theo quy định tại Điều 5 Nghị định này; - Là loài đặc hữu hoặc có một trong các giá trị đặc biệt về khoa học; y tế; kinh tế; sinh thái, cảnh quan, môi trường và văn hóa - lịch sử. Điều 5 Xác định loài có số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng được xác định như sau: 1. Loài động vật hoang dã, thực vật hoang đã được xác định là loài có số lượng cá thể còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng khi có một trong các điều kiện sau: - Suy giảm quần thể ít nhất 50% theo quan sát hoặc ước tính trong mười (10) năm gần nhất hoặc ba (03) thế hệ cuối tính đến thời điểm đánh giá; hoặc được dự 5 báo suy giảm ít nhất 50% trong 10 năm hoặc ba (03) thế hệ tiếp theo tính từ thời điểm đánh giá; - Nơi cư trú hoặc phân bố ước tính dưới 500 km2 và quần thể bị chia cắt nghiêm trọng hoặc suy giảm liên tục về khu vực phân bố, nơi cư trú; - Quần thể loài ước tính dưới 2.500 cá thể trưởng thành và có một trong các điều kiện: suy giảm liên tục theo quan sát hoặc ước tính số lượng cá thể từ 20% trở lên trong năm (05) năm gần nhất hoặc hai (02) thế hệ cuối tính đến thời điểm đánh giá; suy giảm liên tục số lượng cá thể trưởng thành, cấu trúc quần thể có dạng bị chia cắt và không có tiểu quần thể nào ước tính có trên 250 cá thể trưởng thành hoặc chỉ có một tiểu quần thể duy nhất; - Quần thể loài ước tính có dưới 250 cá thể trưởng thành; - Xác suất bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên của loài từ 20% trở lên trong vòng 20 năm tiếp theo hoặc năm (05) thế hệ tiếp theo tính từ thời điểm lập hồ sơ.