PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo các mô hình lý thuyết, sự hình thành các ngôi sao bắt đầu từ sự sụp đổ hấp dẫn của các đám mây phân tử khí lạnh và đậm đặc (chủ yếu là khí Hydro), kéo dài trong 4 giai đoạn 0, I, II, và III. Khi đám mây phân tử co lại dưới tác dụng của vật chất bên trong nó đủ mạnh và nhanh, đám mây ban đầu sẽ bị phân rã thành các đám khí và bụi có mật độ cao – đây là các lõi tiền sao. Điều kiện để các lõi tiền sao bắt đầu co rút hấp dẫn tạo thành các tiền sao là khối lượng của lõi phải lớn hơn khối lượng tối thiểu Jeans 1M .
Ở giai đoạn 0, sau khi tiền sao được hình thành, các hạt vật chất có động lượng quay nhỏ rơi vào một mặt phẳng ở ngoài rìa cắt ngang tiền sao tạo thành một đĩa bồi đắp xung quanh tiền sao còn các hạt có động lượng quay lớn hơn rơi vào ở vị trí xa bên ngoài đĩa. Vật chất trên đĩa tiếp tục bồi đắp cho lõi tiền sao nhưng một phần vật chất sẽ thoát ra ngoài qua luồng phụt lưỡng cực phân tử khí vuông góc với mặt phẳng đĩa. Qua giai đoạn I, tiền sao vẫn còn luồng phụt lưỡng cực, tuy nhiên luồng phụt đã làm thủng một phần vỏ bọc ngoài tiền sao. Đến giai đoạn II, phần vỏ bọc bên ngoài bị phá vỡ và dần tan biến, chỉ còn lại tiền sao trung tâm đã lộ diện và đĩa tiền hành tinh, vật chất tiếp tục bồi đắp vào tiền sao nhưng với tốc độ thấp hơn giai đoạn trước.
Trong giai đoạn cuối, phần vật chất trong đĩa bị phân tán do bồi đắp vào trong, chỉ còn lại các hành tinh và phần bụi tàn dư còn lại (phần này còn gọi là đĩa tàn dư). Đĩa bụi trong các giai đoạn hình thành sao ở trên là hướng nghiên cứu quan trọng để hiểu rõ về lịch sử hình thành của các ngôi sao. Đĩa bụi đã được quan sát và nghiên cứu ở nhiều ngôi sao trẻ có kiểu phổ khác nhau thuộc dãy chính, từ đĩa xung quanh các sao T Tauri với kiểu phổ F – M [1] đến đĩa xung quanh các sao Herbig Ae/Be với kiểu phổ A – B [2]. Ở các vật thể như sao lùn nâu (13 – 75 M J ) và các sao lùn có kiểu phổ M-trễ (< 0,35 M ) có khối lượng quá thấp so với khối lượng tối thiểu Jeans, không đủ lớn để hình thành qua sự sụp đổ hấp dẫn của các đám mây phân tử.
Tuy nhiên, các 10 quan sát thực nghiệm gần đây và các mô hình tính toán lý thuyết cho thấy loại sao này hình thành tương tự như các sao thông thường có khối lượng thấp. Một trong những bằng chứng quan trọng nhất là sự phát hiện đĩa bụi xung quanh các tiền sao có khối lượng rất thấp và sao lùn nâu trẻ ở các vùng hình thành sao và các nhóm sao trẻ [3],[4],[5]. Một số nghiên cứu trước đây [6],[7],[8] cũng cho thấy đĩa xung quanh các vật thể này cũng có hiện hượng hút vật chất vào tiền sao và luồng phụt lưỡng cực tương tự các sao T Tauri. Như vậy, có thể thấy việc tìm hiểu về các tính chất của đĩa bụi là cần thiết để hiểu rõ hơn về cơ chế hình thành vào các giai đoạn đầu tiên của một ngôi sao.
Bên cạnh đó, do khối lượng đĩa rất nhỏ so với các sao thông thường, đĩa của các sao có khối lượng rất thấp cũng là môi trường để nghiên cứu về sự hình thành các hành tinh xung quanh các vật thể này. Từ những cơ sở nói trên, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Nhật Kim Ngân và ThS. Nguyễn Thành Đạt tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu tính chất đĩa bụi của các sao lùn có khối lượng rất thấp ở những vùng hình thành sao và các nhóm sao trẻ.
Mục đích nghiên cứu Mục tiêu của khóa luận là phân tích, tính toán được khối lượng, nhiệt độ và khảo sát một số tính chất khác của bụi trong đĩa xung quanh sao lùn trẻ có kiểu phổ M-trễ ở các vùng hình thành sao và các nhóm sao trẻ dựa trên các dữ liệu quan sát ALMA của các vật thể. Từ đó nghiên cứu về tính chất chung của đĩa bụi, sự tiến hóa tiến hóa của đĩa bụi và sự hình thành hành xinh quang quanh loại sao này. Nhiệm vụ nghiên cứu Khóa luận tập trung nghiên cứu, khảo sát tính chất của đĩa bụi xung quanh các sao lùn trẻ có kiểu phổ M trễ (M5 – M9) ở các vùng hình thành sao và các nhóm sao trẻ dựa trên các dữ liệu quan sát ALMA. Khóa luận sẽ xây dựng mô hình phân bố năng lượng (SED) từ các dữ liệu quan sát ALMA và rút ra được các tính chất nhiệt độ, khối lượng bụi trong đĩa.
Ngoài ra, khóa luận sẽ sử dụng các mô hình lý thuyết như mô hình CIFISIT2011 BT-Settl, mối quan hệ giữa mật động thông 11 lượng và khối lượng bụi để tính toán khối lượng và nhiệt độ bụi trong đĩa. Từ những kết quả thu được, khóa luận sẽ làm rõ mối quan hệ giữa khối lượng bụi và khối lượng của ngôi sao, từ đó thảo luận về sự tiến hóa của đĩa bụi và sự hình thành hành tinh xung quang ngôi sao. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đĩa bụi xung quanh các sao lùn trẻ có kiểu phổ M trễ (M5 – M9) ở các vùng hình thành sao và các nhóm sao trẻ. Phương pháp nghiên cứu Phân tích dữ liệu quan sát ALMA ở các bước sóng milimét và dưới milimét để phát hiện và đo thông lượng đĩa từ các sao lùn trẻ.
Xây dựng mô hình tính toán lý thuyết bằng mối quan giữa thông lượng và khối lượng bụi để xác định một số tính chất của đĩa như khối lượng bụi, nhiệt độ, bán kính đĩa, khối lượng và độ trưng của vật thể trung tâm. Xây dựng chương trình tính toán từ thông lượng đo được ở các bước sóng khác nhau trong vùng hồng ngoại đến vùng dưới milimét và milimét để xác định một số tính chất của đĩa như khối lượng bụi, nhiệt độ bụi trong đĩa. Đóng góp mới của đề tài Với hướng nghiên cứu trên, Ward-Duong và cộng sự (2018) đã tiến hành nghiên cứu tính chất của đĩa bụi xung quanh các vật thể dưới sao thuộc nhóm Taurus bằng mô hình phân bố năng lượng SED và MCFOST, Van Der Plas và cộng sự (2016) nghiên cứu về bụi và khí CO trong các đĩa bụi xung quanh các sao lùn nâu nằm trong vùng Upper Scorpius bằng mô hình MCFOST, Testi và cộng sự (2016) đã khảo sát tính chất đĩa của các sao lùn nâu và sao có khối lượng rất thấp thuộc nhóm sao Ophiuchus bằng cách xử lý dữ liệu ALMA và phương pháp dựa trên mối quan hệ giữa thông lượng quan sát và khối lượng bụi,. Các nghiên cứu đã thực hiện đều đưa ra những số liệu tương đối khớp với mô hình lý thuyết về các vật thể dưới sao, họ cũng thảo thuận về các tính chất của đĩa bụi, mối quan hệ giữa 12 đĩa bụi và vật thể trung tâm và đưa ra những lập luận về khả năng hình thành hành tinh xung quanh các ngôi sao.
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ phân tích tính chất bụi của đĩa xung quanh 30 sao lùn nâu và sao có khối lướng rất thấp ở các nhóm sao trẻ Taurus, Upper Scorpius, Rho Ophiuchus bằng cách tính mà các nghiên cứu trên chưa làm. Cụ thể khóa luận đưa ra kết quả khối lượng, nhiệt độ và chỉ số bức xạ bụi từ các mô hình lý thuyết có sử dụng dữ liệu thực nghiệm (SED, CIFIST2011 BT-Settl, mối quan hệ giữa thông lượng quan sát và khối lượng bụi), từ đó khóa luận làm rõ hơn về các tính chất, sự tiến hóa của đĩa bụi và khả năng hình thành hành tinh xung quanh các ngôi sao này. Phân loại sao Hầu hết các sao chúng ta nhìn thấy đều thuộc dải chính và chúng dành khoảng 90% thời gian sống để đốt cháy hydro tạo ra heli trong những phản ứng nhiệt độ cao và áp suất cao tại lõi của sao. Dựa trên đặc trưng của quang phổ các sao phát ra, người ta chia sao thành 7 loại chính, được ký hiệu qua 8 chữ cái: O - B - A - F - G - K - M (L, T, Y).
Nhiệt độ của sao giảm dần từ O đến M, Mặt trời là ngôi sao lùn có kiểu phổ G. Bằng cách phân tích quang phổ của các sao người ta có thể biết được nhiệt độ và màu sắc ứng với nhiệt độ đó. Đồng thời phân tích quang phổ còn cho biết thành phần hóa học của vật chất cấu tạo sao.1 sau thể hiện đặc trưng cơ bản của sao theo quang phổ. Những đặc trưng cơ bản của ngôi sao theo quang phổ.
Loại Nhiệt độ (K) Màu Vạch quang phổ đặc trưng O 30 000 Lam Vạch hấp thụ He+, He, H và ion C, Si, N, O. B 20 000 Trắng lam Vạch He. F 8000 Trắng vàng Vạch Ca+, Mg+, H yếu. G 6000 Vàng Vạch Ca+, Fe, Ti.
K 4000 Da cam Vạch Fe, Ti. M 5000 Đỏ Dải hấp thụ của phân tử TiO. Dựa vào kiểu phổ, người ta còn chia nhóm sao ra làm 3 loại: sao thông thường, sao lùn nâu và hành tinh.1 bên dưới cho thấy các sao thông thường thuộc kiểu phổ O đến kiểu phổ M-giữa. Sao lùn nâu thuộc kiểu phổ M-trễ đến kiểu phổ Y.
Hành tinh có kiểu phổ sau kiểu phổ Y. Sao và kiểu phổ. Sao có khối lượng rất thấp được phân loại vào kiểu phổ M-giữa (≥ M5), và sao lùn nâu được phân loại vào kiểu phổ M-muộn (≥ M8), L, T và Y. Cụ thể hơn: Ở lớp phổ M: Quang phổ của chúng được chi phối bởi các dải hấp thụ phân tử Titanium oxide (TiO) và Vanadium oxide (VO).
Ở lớp phổ L: Các oxide kim loại biến mất nhanh chóng, thay vào đó là các dải hấp thụ của kim loại Hydride mạnh như FeH, CrH, MgH, CaH và các dải hấp thụ của Alkali nổi bật như NaI, KI, CsI, RbI. Ở lớp phổ T: Năm 2002 một số nhà khoa học đã khám phá sao lùn Methane (CH4) và dẫn đến định nghĩa lớp phổ mới là phổ T cho sao lùn nâu lạnh hơn sao lùn lớp phổ L. Ở lớp phổ Y: Được cho rằng còn lạnh hơn lớp T, phổ hồng ngoại của chúng phải có NH3 đủ để xếp vào một lớp phổ mới. Về mặt lý thuyết, lớp phổ Y được đề xuất cho các sao lùn nâu siêu lạnh có nhiệt độ dưới 600 K.2 bên dưới mô tả đặc trưng của các sao lùn có kiểu phổ M, L, T và Mộc tinh thông qua các dải hấp thụ.