Chương 1 trình bày các hiểu biết cho đến nay về hệ thống GG Tau A. Chương 2 trình bày một số nét cơ bản về thiết bị quan sát, các quan sát và phương pháp phân tích được sử dụng. Nội dung chương này giới thiệu ngắn gọn về hệ giao thoa vô tuyến IRAM và ALMA, các quan sát được thực hiện với các hệ giao thoa này và xử lý sơ bộ dữ liệu. Chương này cũng trình bày về nguyên tắc hoạt động của giao thoa vô tuyến và việc chuyển đổi dữ liệu cũng như một số kiến thức cơ bản về truyền bức xạ và về gói phần mềm (DiskFit) sử dụng cho việc mô hình hoá các dữ liệu quan sát được dựa trên nguyên tắc truyền bức xạ.
Chương 3 đề cập đến các kết quả nghiên cứu cụ thể về hình thái và động học của đĩa tiền hành tinh GG Tau A sử dụng quan sát phát xạ từ các đồng phân CO và bụi bởi hệ giao thoa vô tuyến ALMA. Những kết quả của nghiên cứu này được công bố trong Phuong et al. Các nghiên cứu này xác nhận hình thái của vành bụi x HÌNH 1: Phát xạ liên tục của vành bụi. Từ trái sang phải và từ trên xuống dưới: Bản đồ cường độ phát xạ, hình elip màu đen là đường khớp hàm tốt nhất giá trị trung bình của khoảng cách đến tâm sao trên mặt phẳng bầu trời h Ri theo góc vị trí ϕ (hình dưới bên trái); mũi tên màu vàng chỉ vào vùng “điểm nóng“ được quan sát bởi Dutrey et al.
(2014) và Tang et al. (2016) với các phát xạ 12 CO(6–5) và 12 CO(3–2); sự phụ thuộc vào R của độ sáng tính trung bình theo ϕ, cùng với đường khớp hàm phù hợp nhất sử dụng hàm Gauss; sự phụ thuộc vào ϕ của h Ri trong khoảng 100 < R < 200 (đường màu đỏ là hàm khớp với hàm elip có độ nghiêng và sai lệch so với gốc toạ độ); sự phụ thuộc vào ϕ của độ sáng phát xạ liên tục của mặt phẳng đĩa tính trung bình trên R trong khoảng 100 < R < 200. Đường màu đỏ hiển thị giá trị độ sáng trung bình phát xạ liên tục trên đĩa. hẹp, có độ nghiêng 35◦ và góc vị trí ∼ 7◦ cũng như sự suy giảm mật độ nhanh chóng ở hai cạnh của vành bụi.
Hình 1 (từ trái sang phải và từ trên xuống) cho thấy i) bản đồ cường độ phát xạ bụi, ii) sự phụ thuộc vào khoảng cách đến tâm sao của độ sáng trong mặt phẳng bầu trời, iii) sự phụ thuộc theo góc phương vị của bán kính trung bình h Ri cho thấy góc nghiêng của đĩa và iv) sự phụ thuộc theo góc phương vị của độ sáng trên mặt phẳng đĩa. Nghiên cứu với phát xạ 13 CO(3–2) cho phép chúng tôi đưa ra giới hạn trên bề xi HÌNH 2: Hình trên: Bản đồ bầu trời của độ sáng tích phân theo vận tốc của phát xạ 13 CO(3–2). Mũi tên đen chỉ vào vị trí “điểm nóng“ (trái). Sự phụ thuộc vào khoảng cách tới tâm của độ sánh tích phân, tính trung bình trên toàn mặt phẳng đĩa.
Đường màu đỏ là đường khớp hàm với tổng 3 hàm Gauss giống như trong Tang et al. Sự phụ thuộc theo góc phương vị của độ sáng tích phân, tính trung bình theo bán kính trên đĩa (0, 5400 < r < 200 ). Đường màu đỏ hiển thị cường độ trung bình (phải). Hình dưới: Bản đồ bầu trời của vận tốc Doppler trung bình trọng số theo độ sáng (trái).
Sự phụ thuộc theo góc phương vị của vận tốc Doppler trung bình trọng số theo độ sáng (giữa). Phụ thuộc vào khoảng cách đến tâm của hVrot × r1/2 i; các đường thẳng là đường khớp với tuyến tính bậc 1 cho chỉ số −0, 63 (đường màu đỏ, khi giới hạn điều kiện | sin ω | > 0, 3) và −0, 48 (đường màu xanh, khi giới hạn điều kiện | sin ω | > 0, 707) (phải). dày đĩa tiền hành tinh này là 0,2400 (34 au) ở khoảng cách 100 (140 au) từ tâm hệ sao. Đĩa ngoài này chuyển động theo định luật Kepler với tốc độ quay ∼ 3.1 km s−1 tại khoảng cách 100 (140 au) từ tâm hệ sao và giới hạn trên của vận tốc rơi so với thành phần quay là 9% (với độ tin cậy 99%).
Sự biến đổi của độ sáng trên đĩa cũng được nghiên cứu chi tiết và xác nhận sự hiện diện của "điểm nóng" trong góc phần tư phía đông nam của đĩa. Kết quả phân tích số liệu cũng cho thấy tồn tại vùng phát xạ yếu hơn so với các khu vực khác ở phía bắc của đĩa. Sự biến đổi độ sáng được chỉ ra có mối tương quan với biến đổi độ rộng vạch phổ. Các yếu tố đóng góp vào việc làm rộng vạch phổ cũng được xem xét.
Nghiên cứu cho thấy nhiệt độ và độ dày quang học của vạch phát xạ 13 CO(3–2) trên đĩa tăng khi khoảng cách tới tâm hệ xii HÌNH 3: Hình trên: Sự phụ thuộc vào khoảng cách tới tâm của độ sáng tích phân theo vận tốc (vạch phát xạ quay của phân tử) và độ sáng (phát xạ liên tục từ bụi) trong mặt phẳng đĩa. Các đoạn thẳng nằm ngang trong hình chỉ ra độ phân giải không gian tương ứng. Hình dưới: Sự phụ thuộc theo góc phương vị của đại lượng tương ứng, tính trung bình trong vành 1, 200 < r < 2. Các hình bên trái là biểu đồ của ba vạch của 12 CO (J=6–5, 3–2 và 2–1), với dữ liệu CO(2–1) được lấy từ Dutrey et al.
(2014), các hình bên phải là biểu đồ của vạch phát xạ J=3–2 của các đồng phân ít phổ biến hơn. Trong các hình phía trên, vùng màu xám đánh dấu vành bụi. Trong các hình phía dưới, mũi tên màu đen chỉ vị trí xảy ra hiệu ứng tăng cường sáng (limb brightening), các đường màu tím giới hạn vị trí "điểm nóng". sao giảm dần.
Hình 2 (hàng trên, từ trái sang phải) trình bày bản đồ độ sáng phát xạ 13 CO(3–2), sự phụ thuộc của độ sáng vào khoảng cách đến tâm và góc phương vị trong mặt phẳng đĩa. Sự phụ thuộc vào khoảng cách đến tâm, được mô tả là tổng của ba hàm Gauss, cho thấy các cấu trúc tinh tế chưa được phân giải với độ phân giải hiện nay của quan sát này (∼50 au). Sự phụ thuộc theo góc phương vị của độ sáng cho thấy đĩa tương đối đồng nhất có phát xạ vượt trội ở góc phần tư phía đông nam, tương ứng với “điểm nóng ” được quan sát với 12 CO(3–2) được báo cáo trong Dutrey et al. Hình 2 (hàng dưới, từ trái sang phải) trình bày bản đồ vận tốc Doppler của phát xạ 13 CO(3–2), sự phụ thuộc theo góc phương vị của vận tốc Doppler trung bình hVz i trên mặt phẳng đĩa và sự phụ thuộc vào khoảng cách xiii đến tâm của hVrot × r1/2 i.
Bản đồ vận tốc cho thấy bằng chứng của một đĩa khí quay. Sự phụ thuộc theo góc phương vị của vận tốc Doppler trung bình hVz i khớp tốt với hàm cos xác nhận chuyển động quay của đĩa. Sự phụ thuộc của hVrot × r1/2 i vào r mô tả chuyển động Kepler của đĩa (nếu đĩa chuyển động theo định luật Kepler thì tích này là hằng số). Đường cong màu đỏ biểu thị phân bố của đại lượng này không tính đến vùng ∼ 17◦ quanh bán trục nhỏ, khớp với hàm tuyến tính bậc 1 cho chỉ số −0, 63 trong khi đường cong màu xanh biểu thị phân bố của đại lượng này bỏ qua vùng ∼ 45◦ quanh bán trục nhỏ, cho kết quả của chỉ số khi khớp hàm là −0, 48, hoàn toàn phù hợp với chuyển động Kepler.
HÌNH 4: Hình trái: Sự phụ thuộc vào khoảng cách tới tâm của nhiệt độ khí CO (màu đỏ) và bụi (màu đen). Nhiệt độ khí được lấy từ kết quả phân tích vạch phát xạ 12 CO(3–2). Nhiệt độ bụi được lấy từ Dutrey et al. Hình phải: Sự phụ thuộc vào khoảng cách tới tâm của mật độ bề mặt của 13 CO(–2), C18 O(3–2) Phần thứ hai của Chương 3 trình bày phân tích các vạch phát xạ phân tử 12 CO (J=2–1, 3–2 và 6–5) và các đồng phân của nó 13 CO (3–2) và C18 O (3–2).
Với độ phân giải góc tốt hơn ∼ 50 au, những dữ liệu này cho thấy bằng chứng về sự không đồng nhất theo khoảng cách tới tâm sao và góc phương vị của đĩa ngoài của hệ tiền hành tinh này. Sự phụ thuộc theo góc phương vị của cường độ phát xạ trong mặt phẳng đĩa của phát xạ 12 CO cho thấy sự hiện diện của “điểm nóng ” ở góc phần tư đông nam. "Điểm nóng" này không thể hiện rõ trong các đồng phân ít phổ biến của CO như 13 CO và C18 O (xem Hình 3). Chương 4 trình bày mô hình truyền bức xạ của 12 CO, 13 CO và C18 O (J=3–2).
Kết quả nghiên cứu của chương này đã được gửi đăng trên tạp chí Astronomy & Astrophysics (Phuong et al. Công việc này được thực hiện một phần trong mặt phẳng uv. Để nghiên cứu phát xạ của khí từ đĩa ngoài với sự phát xạ của khí từ trong khoang rỗng một cách riêng biệt, tôi đã loại bỏ các thành phần CLEANed bên trong khoang rỗng r < 160 au từ số liệu uv ban đầu và phân tích dữ liệu với số liệu uv đã thay đổi (chỉ còn các phát xạ từ đĩa ngoài). Thành phần CLEANed là thành phần data-cube tốt nhất mô tả phát xạ của nguồn được sử dụng trong quá trình chuyển đổi số liệu từ mặt phẳng uv sang mặt phẳng bầu trời.
Vì vạch phát xạ phân tử 12 CO(3–2) có độ dày quang học lớn và dễ bị nhiệt hóa, chúng tôi sử dụng vạch này để tính nhiệt độ của đĩa giả sử mật độ bề mặt của 12 CO(3–2) đủ lớn. Mật xiv HÌNH 5: Hình trái: Sự phụ thuộc của hVz i ( km s−1 ) vào góc phương vị ω (◦ ) trong khoang rỗng. Phát xạ 12 CO (3–2) được biểu diễn bởi đường màu đen, 13 CO (3–2) màu đỏ và C18 O (3–2) màu xanh lam. Đường cong màu đỏ biểu diễn đường khớp hàm của phát xạ 13 CO (3–2) với hàm sin.
Các đường cong màu tía biểu diễn đường chuyển động Kepler cho một sao đơn có khối lượng 1,36 M. Đường cong màu xanh lá cây trong bảng (f) biểu diễn hàm khớp với sự đóng góp của thành phần vận tốc rơi so sánh với hàm khớp chỉ bao gồm thành phần chuyển động quay, hai đường khớp được vẽ chồng lên số liệu của phát xạ 13 CO. Hình phải: Sơ đồ Vận tốc–Vị trí của phát xạ 13 CO(3–2) trong khoang rỗng dọc theo bán trục lớn (hình trên) và bán trục nhỏ (hình dưới).