Luận văn thạc sĩ về tiến hóa trầm tích Oligocen-Miocen tại miền võng Hà Nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tiến hóa các thành tạo trầm tích Oligocen, Miocen phía Đông Nam miền Võng Hà Nội, cung cấp cái nhìn sâu sắc về địa chất khu vực.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Địa chất học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2012

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG TRẦM TÍCH

2. CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TƯỚNG ĐÁ CỔ ĐỊA LÝ

4. CHƯƠNG 4: TIẾN HÓA TRẦM TÍCH VÀ ĐỊA TẦNG PHÂN TẬP

5. CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ TRIỂN VỌNG DẦU KHÍ

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu tiến hóa trầm tích Oligocen Miocen Hà Nội

Nghiên cứu tiến hóa trầm tích Oligocen-Miocen tại Hà Nội là một lĩnh vực quan trọng trong địa chất học. Bể Sông Hồng, nơi có diện tích lớn và lịch sử phát triển địa chất phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin quý giá về sự hình thành và phát triển của các thành tạo trầm tích. Việc hiểu rõ về các thành tạo này không chỉ giúp xác định các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà còn hỗ trợ trong công tác tìm kiếm và khai thác dầu khí.

1.1. Đặc điểm địa chất của bể Sông Hồng

Bể Sông Hồng là bể trầm tích Đệ tam lớn nhất Việt Nam, với diện tích trên 220.000 km2. Đặc điểm địa chất của bể này bao gồm sự hình thành từ một địa hào kéo toạc, tạo nên nhiều đối tượng chứa dầu khí khác nhau. Miền võng Hà Nội (MVHN) là một phần quan trọng của bể này, nơi đã phát hiện nhiều mỏ khí và dầu.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu trầm tích Oligocen Miocen

Nghiên cứu trầm tích Oligocen-Miocen không chỉ giúp hiểu rõ về lịch sử địa chất mà còn cung cấp thông tin cần thiết cho việc tìm kiếm và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Các trầm tích này thường gắn liền với môi trường cụ thể, từ đó giúp các nhà địa chất đánh giá tiềm năng dầu khí của khu vực.

II. Thách thức trong nghiên cứu trầm tích Oligocen Miocen tại Hà Nội

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về trầm tích Oligocen-Miocen, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua. Việc xác định chính xác môi trường tiến hóa trầm tích là một trong những vấn đề lớn nhất. Các yếu tố như sự biến đổi khí hậu, hoạt động kiến tạo và sự thay đổi môi trường có thể ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các thành tạo trầm tích.

2.1. Khó khăn trong việc xác định môi trường trầm tích

Việc xác định môi trường trầm tích Oligocen-Miocen gặp nhiều khó khăn do sự biến đổi liên tục của các yếu tố địa chất. Các tài liệu địa chất hiện có chưa đủ để đưa ra những kết luận chính xác về môi trường hình thành của các trầm tích này.

2.2. Ảnh hưởng của hoạt động kiến tạo đến trầm tích

Hoạt động kiến tạo trong khu vực miền võng Hà Nội đã tạo ra nhiều đứt gãy và nếp lồi, ảnh hưởng đến sự phân bố và phát triển của các thành tạo trầm tích. Điều này làm cho việc nghiên cứu và đánh giá tiềm năng dầu khí trở nên phức tạp hơn.

III. Phương pháp nghiên cứu tiến hóa trầm tích Oligocen Miocen

Để nghiên cứu tiến hóa trầm tích Oligocen-Miocen, các nhà khoa học đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm phân tích địa chấn, địa tầng, và thạch học, giúp xác định đặc điểm và lịch sử phát triển của các thành tạo trầm tích.

3.1. Phân tích địa chấn trong nghiên cứu trầm tích

Phân tích địa chấn là một trong những phương pháp quan trọng nhất trong nghiên cứu trầm tích. Nó giúp xác định cấu trúc địa chất và các đặc điểm của các thành tạo trầm tích Oligocen-Miocen, từ đó đưa ra những đánh giá chính xác về tiềm năng dầu khí.

3.2. Nghiên cứu thạch học và môi trường trầm tích

Nghiên cứu thạch học giúp xác định thành phần và cấu trúc của các trầm tích Oligocen-Miocen. Các mẫu lõi và mẫu vụ từ các giếng khoan được phân tích để đánh giá môi trường hình thành và phát triển của các thành tạo này.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về tiến hóa trầm tích Oligocen-Miocen đã cung cấp nhiều thông tin quý giá cho việc tìm kiếm và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Các nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các bẫy phi cấu tạo mà còn hỗ trợ trong việc phát hiện các nguồn khí mới.

4.1. Đánh giá triển vọng dầu khí từ trầm tích Oligocen Miocen

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các trầm tích Oligocen-Miocen có tiềm năng lớn trong việc chứa đựng dầu khí. Các đặc điểm địa chất và môi trường hình thành của các thành tạo này đã được xác định rõ ràng, tạo cơ sở cho việc tìm kiếm và khai thác.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị trong việc tìm kiếm dầu khí mà còn hỗ trợ trong việc phát triển kinh tế địa phương. Việc phát hiện các nguồn khí mới sẽ góp phần gia tăng trữ lượng và đáp ứng nhu cầu năng lượng của miền Bắc Việt Nam.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu trầm tích

Nghiên cứu tiến hóa trầm tích Oligocen-Miocen tại Hà Nội đã mở ra nhiều hướng đi mới trong việc tìm kiếm và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua để có thể khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên này.

5.1. Tương lai của nghiên cứu trầm tích Oligocen Miocen

Trong tương lai, nghiên cứu về trầm tích Oligocen-Miocen sẽ tiếp tục được mở rộng, với sự phát triển của các công nghệ mới trong địa chất học. Điều này sẽ giúp nâng cao độ chính xác trong việc xác định các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

5.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc phân tích sâu hơn về môi trường hình thành và phát triển của các thành tạo trầm tích, từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu cho công tác tìm kiếm và khai thác dầu khí.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Đặc điểm địa tầng trầm tích Chương 2. Lịch sử nghiên cứu , cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Đặc điểm tướng đá cổ địa lý Chương 4.

Tiến hóa trầm tích và địa tầng phân tập Chương 5. Đánh giá triển vọng dầu khí. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG TRẦM TÍCH Vùng nghiên cứu thuộc đới trung tâm miền võng Hà Nội, nằm kẹp giữa hai đứt gãy Vĩnh Ninh và đứt gãy Sông Chảy (còn được gọi là phụ đới nghịch đỏa Miocen) (Hình 1. Bản đồ phân bố các cấu tạo triển vọng MVHN (theo PVN- 1982, ANZOIL-2000) 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài đứt gãy ranh giới Vĩnh Ninh, trong phụ đới này còn phát triển các đứt gãy phụ khác trong Miocen tạo thành dạo cấu trúc hình hoa.

Sự chuyển dịch của các khối trong quá trình nén ép ngang, nâng và sụt hình thành các đứt gãy và tạo ra các nếp lồi, bán lồi và lõm xen kẽ nhau. Trong đó, nổi bật nhất là các dải cấu tạo địa phương như Phù Cừ, Tiên Hưng, Kiến Xương, Tiền Hải và dải cấu tạo /bán cấu tạo K13A, B, C, D, Vũ Thư, Hưng Hà trê dải nâng Hưng Yên kề áp vào đứt gãy chạy dọc theo dải nâng này. Dải nâng Hưng Yên là dải nâng có đặc trưng kiến tạo phức tạp, được hình thành trong pha kiến tạo nghịch đảo xảy ra trong thời kỳ cuối Miocen. Trên dải nâng này phần cao nhất là đới Xuân Trường, trầm tích Miocen thượng hầu như bị bào mòn hoàn toàn, các trầm tích dưới nó thuộc lát cắt Oligocen ngoài việc các pha sóng phản xạ không có độ liên tục tốt còn bị tác động vò nhàu, phá hủy trong quá trình nén ép trượt theo đứt gãy Sông Chảy vào cối thời kỳ Miocen gây khó khăn trong việc liên kết ranh giới một cách tin cậy.

Địa tầng Đệ tam MVHN được phân chia thành các mức địa tầng Eocen, Oligocen dưới, Oligocen trên, Miocen dưới, Miocen giữa, Miocen trên, Pliocen (tương ứng với các hệ tầng Phù Tiên, Hòn Ngư?, Đình Cao , Phong Châu , Phù Cừ, Tiên Hưng, Vĩnh Bảo) (Hình 1. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Địa tầng trầm tích và các giai đoạn tiến hóa MVH (theo Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam) 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Thống Eocen Hệ tầng Phù Tiên (E2pt) Mặt cắt chuẩn hê ̣ tầ ng Phù Tiên được Phạm Hồng Quế mô tả tại giếng khoan GK.104 Phù Tiên - Hưng Yên từ độ sâu 3.860m, bao gồm cát kết, sét bột kết màu nâu tím , màu xám xen các lớp cuội kết có độ hạt rất khác nhau từ vài cm đến vài chục cm. Thành phần cuội thư ờng là đá ryolit , thạch anh, đá phiến kết tinh và quarzit.

Cát kết có thành phần đa khoáng, độ mài tròn và chọn lọc kém, nhiều hạt thạch anh, calcit bị gặm mòn, xi măng calcit- sericit. Bột kết rắn chắc thường có màu tím, chứa sericit và oxyt sắt. Trên cùng là lớp cuội kết hỗn tạp màu tím, màu đỏ xen các đá phiến sét với nhiều vết trượt láng bóng. Ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ , trầ m tić h Eocen đư ợc phát hiện ở GK.535m) với cuội sạn kết có kích thước nhỏ, thành phần chủ yếu là các mảnh đá granit và đá biến chất xen với cát kết, sét kết màu xám, màu nâu có các mặt trượt hoặc bị phân phiến mạnh.

Các đá kể trên bị biến đổi thứ sinh mạnh. Trên các mặt cắt địa chấn, trầm tích hệ tầng Phù Tiên thể hiện bằng tập địa chấn nằm ngang, phủ bất chỉnh hợp ngay trên mặt đá móng trước Đệ tam. Tuy nhiên, nó chỉ được theo dõi tốt ở vùng vịnh Bắc Bộ. Tập địa chấn này có các phản xạ biên độ cao, tần số thấp, độ liên tục từ trung bình đến kém ở MVHN và chuyển sang dạng phản xạ song song, độ liên tục tốt, biên độ cao ở vịnh Bắc Bộ.

Tuổi Eocen của hệ tầng được xác định dựa theo các dạng bào tử phấn hoa, đặc biệt là Trudopollis và Ephedripites. Nguyễn Địch Dỹ (1981) và Phạm Quang Trung (1998) cho rằng chúng có tuổi Creta – Paleogen, nhiều khả năng là Eocen. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hệ tầng được thành tạo trong môi trường sườn tích - sông hồ. Hệ tầng phủ bất chỉnh hợp trên đá cổ hơn.Thống Oligocen 2 Hệ tầng Đin ̀ h Cao - E3 đc Hệ tầng Đình Cao được xác lập tại giếng khoan GK.

104 xã Đình Cao huyện Phù Tiên - Hưng Yên. Tại đây, từ độ sâu 2.544m, trầ m tić h chủ yếu gồm cát kết màu xám sáng, xám sẫm đôi chỗ phớt tím, xen các lớp kẹp cuội kết dạng puđing, sạn kết chuyển lên các lớp bột kết, sét kết màu xám, xám đen, rắn chắc xen ít lớp cuội sạn kết. Các đường cong đo địa vật lý lỗ khoan phân dị rõ với giá trị điện trở cao. Bề dày của trầ m tích là 1.

Trầ m tích Oligocen dưới phát triển rô ̣ng ở Đông Quan , Thái Thuỵ, Tiền Hải –Thái Bình và vịnh Bắc Bộ, bao gồm cát kết xám sáng, sáng xẫm, hạt nhỏ đến vừa, ít hạt thô, đôi khi gặp cuội kết, sạn kết có độ lựa trọn trung bình đến tốt. Đá gắn kết chắc bằng xi măng cacbonat, sét và oxýt sắt. Cát kết đôi khi chứa glauconit (GK. Sét kết xám sáng, xám sẫm, đôi chỗ có các thấu kính than hoặc các lớp kẹp mỏng sét vôi.

Chiều dầy hệ tầng 300- 1. Trong trầ m tích này mới chỉ tìm thấy các vết in lá thực vật , bào tử phấn hoa, Diatomeae, Pediatrum và động vật nước ngọt. Hóa thạch động vật thân mềm nước ngọt Viviparus có ý nghĩa trong việc nhận biết hệ tầng Đình Cao. Trên mặt cắt địa chấn , hệ tầng Đình Cao đặc trư ng bằng các phản xạ mạnh, biên độ cao , độ liên tục trung bình , nằm xiên.

Phần dư ới của mặt cắt có các phản xạ không liên tục , biên độ trung bình. Đặc biệt còn nhận thấy phần đáy của trầ m tić h đư ợc thể hiện bằng các mặt kề áp, một pha, độ liên tục kém, biên độ cao. Đây chính là mặt bất chỉnh hợp giữa các hệ tầng Đình Cao và Phù Tiên. Ở các giếng khoan 203, 81, 204, 200, 106 các trầm tích bị vò nhàu và dốc đứng đến 80o.

13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trầ m tích Oligocen trên - hệ tầng Đình Cao phủ bấ t chỉnh hợp lên hệ tầng Phù Tiên. Môi trường thành ta ̣o là sông - đầ m hồ - châu thổ và biể n nông. Điều đáng lưu ý là các tập bột kết và sét kết màu xám đen phổ biến ở trũng Đông Quan và vịnh Bắc Bộ chứa lượng vật chất hữu cơ ở mức độ trung bình (0,54%). Chúng được xem là đá mẹ sinh dầu ở miề n võng Sông Hồng .Thống Miocen Phụ thống Miocen dƣới Hệ tầng Phong Châu - N11pch Trầ m tić h Miocen dưới – hê ̣ tầ ng Phong Châu phân bố chủ yếu trong dải Khoái Châu – Tiền Hải thuộc MVHN (GK100 tại xã Phong Châu , huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Biǹ h ) và phát triển ra vịnh Bắc Bộ (GK 103-TH) với sự xen kẽ của các lớp cát kết hạt vừa , hạt nhỏ màu xám trắng , xám lục nhạt gắn kết chắc với các lớp cát bột phân lớp rất mỏng và sét kết chứa dấu vết than hoặc những lớp kẹp đá vôi mỏng (GK 103-TH, 103-HOL).

Cát kết có xi măng chủ yếu là carbonat với hàm lượng cao (25%), ít sét. Sét kết có màu xám sáng đến xám sẫm và nâu đỏ nhạt , phân lớp song song , lượn sóng với thà nh phần khoáng vật chủ yếu là kaolinit và ilit. Khoáng vật phụ gồm nhiều glauconit và pyrit. Bề dày của hệ tầng thay đổi từ 400 đến 1.

Trên các mặt cắ t địa chấn , hình hài của hệ tầng Phong Châu được thể hiện bằng các tập phản xạ song song , độ liên tục tốt, thế nằm với xu thế biển tiến trên các khối nâng ở ngoài khơi vịnh bắc Bộ. Trên cơ sở phân tích bào tử phấn, Phan Huy Quynh và Đỗ Bạt xác lập phức hệ Betula –Alnipollenites và đới Florschuetzia levipoli tuổi Miocen sớm. Môi trường thành tạo của các trầm tić h là châu thổ - tiền châu thổ và biển nông với các trầm tić h biển tăng lên rõ rệt từ MVHN ra phiá vịnh Bắc Bộ. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hệ tầng phủ bất chỉnh hợp (dạng bất chỉnh hợp khu vực ) trên hệ tầng Điǹ h Cao và các đá cổ hơn.

Phụ thống Miocen giữa Hệ tầng Phủ Cừ - N12pc Hệ tầng Phù Cừ được Golovenok V., Lê Văn Chân (1966) mô tả lần đầu tại lỗ khoan GK.180m) trên cấu tạo Phủ Cừ thuô ̣c miền võng Hà Nội. Tuy nhiên, khi đó chưa gặp được phần dưới của hệ tầng và mặt cắt được mô tả bao gồm các trầm tích đặc trưng bằng tính chu kỳ rõ rệt với các lớp cát kết hạt vừa, cát bột kết phân lớp mỏng (dạng sóng, thấu kính, phân lớp xiên), bột kết, sét kết cấu tạo khối, chứa nhiều hóa thạch thực vật, dấu vết động vật ăn bùn, trùng lỗ và các vỉa than nâu. Cát kết có thành phần ít khoáng, độ lựa chọn và mài tròn tốt. Khoáng vật phụ ngoài turmalin, zircon, đôi nơi gặp glauconit và granat.

Các nghiên cứu cho thấy hệ tầng Phủ Cừ phát triển rộng khắp trong miền võng Hà Nội, có bề dày mỏng ở vùng Đông Quan và phát triển mạnh ở vịnh Bắc Bộ với thành phần trầm tích gồm cát kết , sét bột kết, than và đôi nơi gặp các lớp mỏng đá vôi. Cát kết có màu xám sáng đến xám lục nhạt, thường hạt nhỏ đến vừa, đôi khi hạt thô (GK.104-QN), chọn lọc trung bình đến tốt, phổ biến cấu tạo phân lớp mỏng, thấu kính, lượn sóng, đôi khi dạng khối chứa nhiều kết hạch siderit, đôi nơi có glauconit (các GK. Cát kết có xi măng gắn kết nhiều carbonat, ít sét. Sét bột kết xám sáng đến xám sẫm, chứa rất ít carbonat, ít vụn thực vật và than nâu (GK.

103-TH) có ít lớp đá carbonat mỏng (GK. Bề dày chung của hệ tầng thay đổi từ 1. Trên mặt cắt địa chấn, hệ tầng Phủ Cừ được thể hiện bằng các pha sóng phản xạ có dạng song song hay hỗn độn, biên độ lớn, tần số cao, thường liên quan đến các tập chứa than. Ranh giới của hệ tầng với hệ tầng Phong Châu nằm dưới có đặc trưng sóng gồm 1 đến 2 pha phản xạ mạnh, biên độ cao, độ liên tục tốt.

15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuổi Miocen giữa của hê ̣ tầ ng đư ợc xác định theo Florschuetzia trilobata với Fl.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ