đặt vấn đề bảo hộ sáng chế mà không bảo hộ đối với phát minh. Một trong những ví dụ điển hình về sự liên quan từ phát minh đi đến sáng chế là việc phát hiện ra sóng radio là phát minh, sau đó việc tạo ra chiếc radio là một sáng chế vĩ đại của loài người. Trên thực tế thì việc để sản xuất ra được 1 chiếc radio là kết quả của hàng trăm sáng chế khác nhau kết hợp lại với nhau. Các quy định pháp luật về bảo hộ bằng độc quyền Sáng chế "Quyền sở hữu trí tuệ" có thể hiểu là thành quả của hoạt động sáng tạo trí óc của con người và sáng chế, với tính đặc thù của nó, luôn được coi là một trong những tài sản trí tuệ quan trọng nhất và chiếm vị trí trung tâm của mọi hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Có thể nói hoat động sáng tạo luôn gắn liền với đời sống của con người. Chính sự sáng tạo đã làm cho con người trở thành một sinh vật xã hội có đẳng cấp vượt trội so với tất cả các sinh vật khác trên trái đất này. Khi một người tạo nên sự sáng tạo, họ có thể đơn giản là hiến dâng miễn phí cho xã hội. Tuy nhiên, nếu để tạo ra sáng chế mất nhiều thời gian, công sức, trí tuệ và tiền bạc, đồng thời sáng chế lại có thể tạo nên ưu thế vượt trội trên thị trường thì việc đòi hỏi chủ sở hữu sáng chế phải "hiến dâng miễn phí" cho xã hội rõ ràng là một yêu cầu không hợp lý và không thực tế.
Trước khi có hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền buộc phải tự bảo vệ công sức của mình bằng cách che dấu, không công khai giải pháp kỹ thuật của mình. Điều này chúng ta thấy rõ tại các nước Phương Đông, khi người ta có xu hướng khoác cho những giải pháp kỹ thuật những bức phủ huyền bí. Hậu quả là, nếu chủ sở hữu sáng chế, vì một lý do nào đó, không truyền được thông tin về kỹ thuật, kỹ thuật ấy sẽ bị thất truyền và nhân loại vĩnh viễn mất đi tri thức. Ví dụ, hàng ngàn năm trước, người Trung Quốc đã tạo ra nhiều loại gốm với men rất đặc biệt.
Tuy nhiên, không ít loại gốm đã hoàn toàn thất truyền, không thể tái tạo lại được nữa. Không những vậy, việc "bế quan tỏa cảng" đối với tri thức khiến cho chủ sở hữu tri thức đó bị "ngủ quên" trên chiến thắng, chỉ biết bảo vệ và khai thác thành quả sáng tạo của mình ngày hôm nay mà không có động lực để tiếp tục sáng tạo, tìm kiếm những tri thức mới. Hệ thông bảo hộ quyền SHTT giải quyết được vấn đề đó. Nó cân bằng được quyền lợi của chủ sở hữu sáng chế và quyền lợi của cộng đồng bằng cách đánh đổi: Chủ sở hữu phải bộc lộ sáng chế của mình đến mức một người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể hiểu và lặp lại được giải pháp kỹ 17 thuật đó.
Ngược lại, nhà nước đảm bảo cho họ quyền độc quyền khai thác sáng chế trong một khoảng thời gian nhất định. Như vậy, cả hai phía, cộng đồng và chủ thể quyền cùng được lợi: Cộng đồng sẽ được biết đến một giải pháp kỹ thuật tiên tiến; đổi lại chủ sở hữu sáng chế thu được tiền từ sáng chế đó trong một thời gian đủ dài để bù đắp công sức tạo ra sáng chế, đồng thời tái sản xuất mở rộng để tạo ra sáng chế mới. Hệ quả là, thay vì dấu kín sáng chế và đóng băng sự sáng tạo, sáng chế được bộc lộ làm giàu kho tri thức nhân loại và sự sáng tạo được khuyến khích khi nó được trả công xứng đáng. Như vậy, hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ được thiết lập dựa trên sự cân bằng về quyền lợi giữa các bên.
Và chúng ta sẽ thấy cụ thể hơn về cơ chế đó, như sau: 1. Các tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế Sáng chế chỉ được bảo hộ nếu nó “xứng đáng” với việc bảo hộ đó. Theo quy định của pháp luật SHTT VN, để được bảo hộ dưới danh nghĩa là sáng chế nếu nó phải đồng thời đáp ứng 3 yêu cầu về (i) Tính mới (ii) Tính sáng tạo và (iii) Khả năng áp dụng công nghiệp. Tuy nhiên, xét rằng Việt Nam đang ở một trình độ kỹ thuật thấp nên pháp luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam đồng thời bảo hộ dưới hình thức giải pháp hữu ích đối với những loại hình sáng chế chỉ đáp ứng về tính mới, khả năng áp dụng công nghiệp nhưng không phải là những hiểu biết thông thường.
Thời hạn bảo hộ Cùng với việc tham gia các điều ước quốc trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, pháp luật về sở hữu trí tuệ Việt Nam bảo hộ quy định thời gian bảo hộ sáng chế tương thích với các hệ thống bảo hộ khác trên thế giới. Theo đó, sáng chế được bảo hộ trong thời hạn 20 năm kể từ ngày nộp đơn. Riêng đối với giải pháp hữu ích, luật chỉ bảo hộ trong thời hạn 10 năm kể từ ngày nộp đơn. Các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế Tuy nhiên, không phải đối tượng nào cũng được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế.
Với mục đích cân bằng lợi ích chung của toàn xã hội và lợi ích của chủ sở hữu sáng chế, pháp luật Việt Nam loại trừ việc bảo hộ sáng chế đối với các đối tượng sau đây: - Ý đồ, nguyên lý và phát minh khoa học; - Phương pháp và hệ thống tổ chức và quản lý kinh tế; - Phương pháp và hệ thống giáo dục, giảng dạy, đào tạo; - Phương pháp luyện tập cho vật nuôi; - Hệ thóng ngôn ngữ, hệ thống thông tin, phân loại, sắp xếp tư liệu; - Bản thiết kế và sơ đồ quy hoạch các công trình xây dựng, các đề án quy hoạch và phân vùng lãnh thổ; - Giải pháp chỉ đề cập đến hình dáng bên ngoài của sản phẩm, chỉ mang đặc tính thẩm mỹ mà không mang đặc tính kỹ thuật; - Ký hiệu quy ước, thời gian biểu, các quy tắc và các luật lệ, các dấu hiệu tượng trưng; - Phần mềm máy tính, thiết kế bố trí vi mạch điện tử, mô hình toán học, đồ thị tra cứu và các dạng tương tự; - Giống thực vật, giống động vật; - Phương pháp phòng bệnh, chẩn đoán bệnh và chữa bệnh cho người và động vật; - Quy trình mang bản chất sinh học (trừ quy trình vi sinh) để sản xuất thực vật và động vật; - Các đối tượng trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo. Tính thống nhất của đơn yêu cầu bảo hộ: - Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp một Bằng độc quyền sáng chế hoặc một Bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho một nhóm sáng chế có mối liên hệ chặt chẽ về kỹ thuật nhằm thực hiện một ý đồ sáng tạo chung duy nhất. - Ví dụ, các đối tượng có thể được đưa vào một đơn đăng ký bao gồm một sản phẩm, một quy trình để sản xuất sản phẩm đó, thiết bị để thực hiện quy trình đó, … 1. Bộc lộ bản mô tả sáng chế: - Bản mô tả phải bộc lộ đầy đủ và rõ ràng bản chất của giải pháp kỹ thuật (sáng chế) đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó.
- Luật SHTT không yêu cầu bộc lộ phương án tốt nhất nhưng để mở rộng tối đa phạm vi xin bảo hộ và tạo cơ sở để sửa đổi, bổ sung bản mô tả trong quá trình nộp đơn, tốt nhất là bộc lộ đầy đủ các thông tin liên quan đến giải pháp yêu cầu được bảo hộ. Quy định pháp luật về thương mại hóa quyền SHTT “Thương mại hóa quyền SHTT” là việc tạo ra lợi nhuận từ chính việc khai thác giá trị của quyền sở hữu và quyền sử dụng các đối tượng của quyền SHTT đang được bảo hộ. Thương mại hóa chính là mục đích cuối cùng của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, do đó, tất cả hệ thống quy định pháp luật xoay quanh và phục vụ cho mục đích đó. Hệ thống Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có 3 khía cạnh chính, gồm: (i) Đăng ký xác lập quyền; (ii) Khai thác quyền (tự sử dụng, cho phép sử dụng quyền dưới hình thức chuyển nhượng, li-xăng); và (iii) Ngăn chặn xâm phạm quyền (ngăn chặn bên thứ ba sử dụng trái phép quyền sở hữu trí tuệ).
Các khía cạnh này bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau với mục đích chung là giúp chủ sở hữu quyền SHTT khai thác tốt nhất tài sản trí tuệ của mình. Việc đăng ký giúp xác định rõ phạm vi quyền được bảo hộ; trên cơ sở đó phát sinh 20 quyền ngăn chặn bên thứ ba sử dụng quyền. Điều đó giúp chủ sở hữu khai thác tốt nhất quyền độc quyền được hưởng. Như vậy, có thể nói toàn bộ hệ thống pháp luật về SHTT đều có liên quan đến việc thương mại hóa quyền SHTT, trực tiếp hoặc gián tiếp.
Quy định trực tiếp về thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ có thể tìm thấy tập trung tại Điều 123 Luật SHTT, theo đó, chủ sở hữu quyền SHTT nói chung, trong đó có chủ sở hữu sáng chế có quyền tài sản sau đây: a) Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 124 Luật SHTT; b) Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định; c) Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp, gồm chuyển nhượng quyền sở hữu và chuyển giao quyền sử dụng. Để tạo điều kiện cho Chủ sở hữu sáng chế thực hiện các quyền tài sản nêu trên, pháp luật Việt Nam có hàng loạt các quy định phụ trợ như chuyển giao, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ (Điều 141-144 Luật sở hữu trí tuệ và Thông tư 01/2007/TT-BKHCN); nhượng quyền thương mại (Điều 284 đến Điều 291 của Luật Thương mại 2005; Nghị định 35/2006/NĐ-CP); tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam đối với tài sản cố định vô hình (Bộ tiêu chuẩn VAS 04 của Bộ Tài chính). Đây là những quy định mang tính nền tảng cực kỳ quan trọng cho hoạt động thương mại hóa sáng chế và quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, cần thẳng thắn thừa nhận rằng cho đến nay, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam mới chú trọng đến việc xác lập và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.