đặt vấn đề cơ bản về mục đích nghiên cứu, nội dung nghiên cứu đề đáp viên hiểu và hợp tác. Cần gửi kèm phong vì đán tem sẵn để đáp viên sẵn sàng trả lời. Bảng câu hỏi phải được trình bày đẹp và hấp dẫn + Phỏng vấn trên Internet bằng các trang Web: *_ Có sẵn mẫu: hình thức này giống như thư tín nhưng người nghiên cứu phải biết trước đối tượng tham gia. Thông thường các doanh nghiệp đã có danh sách 10 email cua các dai ly và họ pửi thư trực tiếp tới từng dai ly va dé nghị tham gia trả lời.
Hình thức này khá nhanh chóng và thuận lợi và có độ tin cậy khá cao. * Mẫu ngẫu nhiên: hình thức này giống như trên nhưng không biết người trả lời là ai. Thông thường cách này chỉ để tham khảo xu thế khuynh hướng chung chứ không xác định được tại sao họ có suy nghĩ và hành động nhƠ] vậy. Hình thức này chỉ để tạo ra thông tin thứ cấp.
— Nghiêm cứu thử nghiệm: tiến hành bằng cách đưa các sản phâm, dịch vụ mới vào một vải cửa hàng được lựa chọn đề thử phản ứng của khác hàng trong các điều kiện bán hàng thực tế nhằm giúp doanh nghiệp hoàn thiện sản phẩm, điều chỉnh lại giá cả hay cải tiến chất lượng. Nghiên cứu thực nghiệm đòi hỏi phải tuyên chọn các nhóm đối tượng tương xứng, xử lý các nhóm đó theo những cách khác nhau, khống chế các biến ngoại lai và kiểm tra xem những sai lệch trong các kết quả quan sát đƠ|ợc có ý nghĩa thông kê không. — Sử dụng các thông tin thứ cấp của các cuộc nghiên cứu khác. Các doanh nghiệp có thể trực tiếp tô chức thực hiện việc điều tra, nghiên cứu hoặc thuê các công ty chuyên nghiên cứu thị trường làm.
Sử dụng nguồn thông tin từ các báo cáo bán hàng để nhận ra một tập quán, thói quen của khách hàng, nhóm khách hàng, sử dụng nguồn thông tin từ sách, báo, tạp chí hay sử dụng thông tin thứ cấp từ các cuộc nghiên cứu khác. Quá trình mua của khách hàng 1. Hành vi trước khi mua Ý thức nhu cầu: quy trình ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng bắt đầu từ khi người mua ý thức được vấn đề hay nhu cầu. Nhu cầu có thê bắt nguồn từ 11 những tác nhân kích thích nội tại (như việc người ta đói, khát dẫn đến nhu cầu ăn uống) hay bên ngoài (như việc nhìn thấy một quảng cáo sản phâm hay dẫn đến nhu cầu phải mua sản phâm đó).
Khi người mua cảm thấy có sự khác biệt giữa tình trạng thực tế và tinh trang mong muốn đạt đến một ngưỡng nào đó, họ sẽ hình thành nên động cơ thôi thúc hành động hướng vào lớp đối tượng có thê thỏa mãn được mong muốn của mình. Tìm kiếm thông tin: người tiêu dùng có nhu cầu sẽ bắt đầu tìm kiếm thêm thông tin. Nhu cầu cảng cấp bách, thông tin ban dau càng ít, sản phẩm cần mua có giá trị lớn thì cảng thôi thúc con người tìm kiếm thông tin. Người tiêu đùng nhận được nhiều thông tin nhất về sản phâm từ những nguồn thông tin thương mại, tuy nhiên, những nguồn thông tin cá nhân lại là những nguồn tác động nhiều nhất tới người tiêu dùng.
Mỗi nguồn thông tin cũng thực hiện các chức năng khác nhau ở một mức độ nào đó tác động đến quyết định mua sắm. Nguồn thông tin thương mại thường thực hiện chức năng thông báo, còn nguồn thông tin cá nhân thi thực hiện chức năng khẳng định hay đánh giá. Đánh giá và so sánh: từ các nhãn hiệu sản phẩm khác nhau đã biết qua giai đoạn tìm kiếm thông tin, khách hàng bắt đầu đánh giá dé chọn ra nhãn hiệu, sản phâm phù hợp với nhu cầu của mình. Các thuộc tính của sản phâm mà khách hàng quan tâm, mức độ quan trọng của các thuộc tính đối với khách hang, niềm tin của khách hàng đối với các nhãn hiệu, độ hữu dụng của các thuộc tính.
Người tiêu dùng xem mỗi sản phâm như một tập hợp các thuộc tính với những khả năng đem lại những ích lợi tìm kiếm và thỏa mãn nhu cầu khác nhau. Những tính 12 chất mà người mua quan tâm thay đối tùy theo loại sản phẩm. Họ sẽ chú ý nhiều nhất đến những tính chất sẽ đem lại cho họ những ích lợi cần tìm kiếm.Cần quan tâm nhiều hơn đến tầm quan trọng của các thuộc tính tồn tại trong sản phâm để đáp ứng được nhu cầu của người tiêu ding. Niềm tin của khách hàng đối với các nhãn hiệu, sản phâm cũng có ảnh hưởng lớn tới quyết định mua hàng của họ.
Người tiêu dùng có khuynh hướng xây dựng cho mình một tập hợp những niềm tin vào các nhãn hiệu. Niềm tin vào nhãn hiệu của người tiêu dùng sẽ thay đổi dựa trên kinh nghiệm của họ và tác động của nhận thức có chọn lọc, bóp méo có chọn lọc và phi nhớ có chọn lọc. Khi một nhãn hiệu đã chiếm được niềm tin của khách hàng sẽ dễ được họ lựa chọn ở các lần mua sau. Nhãn hiệu là một tài sản vô hình của công ty, do vậy việc xây dựng một thương hiệu mạnh là cực kỳ quan trọng.
Mỗi thuộc tính của sản phâm thông thường được người tiêu dùng gán cho một mức độ hữu dụng khác nhau. Khi quyết định mua một sản phâm, khách hàng luôn có xu hướng chọn sản phẩm có tổng giá trị sử dụng từ các thuộc tính là lớn nhất. Hành vi trong khi mua Ở giai đoạn đánh giá, người tiêu dùng đã hình thành sở thích đối với những nhãn hiệu trong tập lựa chọn. Người tiêu dùng cũng có thế hình thành ý định mua nhãn hiệu ưa thích nhất.
Trước khi quyết định mua hàng, bao giờ người tiêu dùng cũng có xu hướng tham khảo ý kiến từ người thân, hoặc ý kiến những người xung quanh đánh giá về sản phẩm đó. Thái độ của người khác càng mãnh liệt đồng thời người ta cảng gần gũi với người tiêu dùng thì cảng có khả năng người tiêu dùng điều chỉnh lại quyết định mua sắm của 13 minh theo người đó. Tuy nhiên, ảnh hưởng của những người khác sẽ trở nên phức tạp khi có một vài người thân cận với người mua có ý kiến trái ngược nhau về sản phẩm người tiêu dùng lựa chọn. Các yếu tổ tỉnh huồng bất ngờ.
Người tiêu dùng hình thành ý định mua hàng trên cơ sở những yếu tổ như (thu nhập dự kiến của gia đình, giá dự kiến và ích lợi dự kiến của sản phâm). Khi người tiêu dùng sắp sửa hành động thì những yếu tổ tình huống bat ngo co thể xuất hiện đột ngột và làm thay đôi ý định mua hàng, họ nhận thức được những rủi ro có thê gặp phải, không dám chắc về quyết định của mình dẫn đến băn khoăn lo lắng khi mua hàng, họ có thê sẽ hủy bỏ quyết định, hoặc thu thập thêm thông tin hoặc các yếu tố hỗ trợ tích cực đề tăng độ tin tưởng vào quyết định của mình. Hành vi sau khi mua Phản ứng sau mua là bước cuối cùng trong quá trình quyết định mua của người tiêu đùng. Sau khi mua xong, khách hàng sử dụng sản phẩm và có các đánh giá về sản phâm mua được.
Mức độ hài lòng của khách hàng sẽ tác động trực tiếp đến các quyết định mua vảo lần sau. Sự hài lòng hay không của khách hàng sau khi mua phụ thuộc vào mỗi tương quan giữa sự mong đợi của khách hàng trước khi mua và sự cảm nhận của họ sau khi mua và sử dụng sản phẩm. Có thé xay ra ba trường hợp dưới đây: — Nếu những tính năng sử dụng của sản phẩm không tương xứng với kỳ vọng của khách hàng thì họ sẽ không hài lòng. — Nếu tính năng đó đáp ứng được kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng.
— Nếu nó vượt quá sự mong đợi của khách hàng thì họ sẽ rất hài lòng Người tiêu dùng hình thành những kỳ vọng, mong đợi về sản phẩm của mình trên cơ sở những thông tin nhận được từ bạn bè, người thân, qua sự giới thiệu của 14 người bán, quảng cáo sản phẩm. Mong đợi cảng cao nhưng cảm nhận thực tế lại thấp thì mức độ thất vọng sẽ càng lớn. Do vậy, việc quảng cáo, giới thiệu sản phâm cần phải trung thực đúng với những lợi ích mà sản phẩm đó có thê mang lại. Khi khách hàng hải lòng, ho sẽ chia sẻ tâm trạng thích thú đó cho nhiều người khác.
Như vậy, có thê nói khách hàng hài lòng là người quảng cáo miễn phí và hiệu quả nhất cho doanh nghiệp. Ngược lại khi họ không hài lòng, họ cũng sẽ “chia buồn” với nhiều người khác. Điều này làm cho công ty có nhiều nguy cơ mất đi khách hàng tiềm năng. Quá trình ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố như đã đề cập ở trên đây.
Đồng thời trong khi ra quyết định thì người tiêu dùng lại tiếp thu, học hỏi được nhiều điều dẫn đến thái độ, hành vi thay đổi theo thời gian. 15 CHUONG 2 - TONG QUAN VE THUONG HIEU LIFEBUOY 2. Giới thiệu thương hiệu Lifebuoy Thương hiệu Lifebuoy là một trong những nhãn hiệu lâu đời nhất của tập đoàn Unilever - một nhãn hiệu “toàn cầu' thật sự ngay cả trước khi cụm từ “thương hiệu toàn cầu” được tạo ra. Xà phòng khử trùng hoàng gia Lifebuoy được ra đời vào năm 1894, là một sản pham có thê dễ dàng mua được bấy 210 dé mang lai diéu kién vé sinh tốt hơn cho mọi người dân.
Ngay sau khi ra đời, xà phòng Lifebuoy đã được bán ở nhiều nơi trên thế ĐIỚI, đến với những nước như An D6 — noi mà đến tận hôm nay vẫn là thị trường dẫn đầu của Lifbuoy. - Logo thương hiệu Lifebuoy \ Hinh 1. Logo thương hiệu Liebuoy 2. Tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu kinh doanh 4% Tầm nhìn Lifebuoy có tầm nhìn đầy cảm hứng trong việc xây dựng một xã hội khoẻ mạnh hơn với việc hình thành thói quen tốt là rửa tay bằng xà phòng và nước rửa tay.
Đây là động lực thúc đây thương hiệu phát triên bền vững với vai trò là người bạn đồng hành của mọi gia đình và bảo vệ sức khoẻ toàn cộng đồng. Để nhận ra tầm nhìn nảy, Lifebuoy luôn đôi mới và cung cap các sản phâm vệ sinh và sức khoẻ cho nhiều người 16 tiêu dùng đồng thời xây đựng những dự án ý nghĩa để tạo ảnh hưởng lên thói quen vệ sinh của người tiêu dùng. s* Sứ mệnh Sứ mệnh của Lifebuoy là: “Vi một Việt Nam khoẻ mạnh hơn”. Đến năm 2025, giáo dục cho 25 triệu người Việt Nam về thói quen vệ sinh tay.