Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp BHTN xuất hiện lần đầu ở Châu Âu với sự ra đời của quỹ BHTN tự nguyện tại Berne (Thụy Sĩ) vào năm 1893.Tham gia đóng góp cho quỹ lúc này không chỉ có giới chủ mà còn những NLĐ có công việc làm không ổn định. Sau đó, để mở rộng quy mô của BHTN, nhằm tăng mức TCTN cho nên đã có sự tham gia đóng góp của chính quyền địa phương và trung ương.
Năm 1911, Vương quốc Anh ban hành đạo luật đầu tiên về BHTN bắt buộc và tiếp đó là một số nước khác ở Châu Âu như: Thụy Điển, Cộng hòa Liên bang Đức… Sau cuộc tổng khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) một số nước Châu Âu và Bắc Mỹ ban hành các Đạo luật về bảo hiểm xã hội và BHTN, chẳng hạn như ở Mỹ năm 1935, Canađa vào năm 1939. Khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, đặc biệt là khi có Công ước số 102 (1952) của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì nhiều quốc gia trên thế giới đã triển khai BHTN và TCTN. Theo công ước 102 (1952) của Tổ chức lao động quốc tế thì BHTN là một trong 09 nhánh của bảo hiểm xã hội. Cùng với các chế độ khác, BHTN nâng cao khả năng bảo vệ NLĐ của hệ thống pháp luật BHXH.
Với tính chất chia sẻ giữa những đối tượng tham gia, BHTN hỗ trợ một khoản tài chính giúp NLĐ thất nghiệp đảm bảo ổn định cuộc sống; sớm đưa lao động thất nghiệp tìm được việc làm ổn định thông qua các hoạt động đào tạo, tư vấn, hỗ trợ học nghề. Ở Việt Nam, BHTN lần đầu tiên được quy định trong Luật Bảo hiểm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội năm 2006 và nay là Luật Việc làm 2013. Luật BHXH năm 2006 thì không có định nghĩa cụ thể thế nào là BHTN thì tại Khoản 4 Điều 3 của Luật Việc làm 2013 đã đưa ra định nghĩa cụ thể về BHTN như sau: “Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp”, theo đó, có thể thấy mục đích của BHTN không chỉ nhằm thay thế, bù đắp thu nhập cho NLĐ khi bị mất việc làm, mà còn hỗ trợ NLĐ học nghề để trang bị cho NLĐ thêm kỹ năng nghề, bên cạnh đó cũng hỗ trợ NLĐ tìm kiếm việc làm miễn phí để cho NLĐ sớm quay lại với thị trường lao động. Tuy nhiên tất cả sự hỗ trợ này cũng dựa trên cơ sở là quỹ BHTN (quỹ được hình thành do các bên cùng đóng góp theo quy định của pháp luật).
Quỹ BHTN này được đóng góp trước khi NLĐ thất nghiệp và muốn được hỗ trợ từ quỹ thì không phải bất kỳ NLĐ thất nghiệp nào đều được hỗ trợ mà phải đáp ứng được các yêu cầu theo pháp luật quy định. Như vậy, có thể hiểu BHTN như sau: BHTN là một hình thức BHXH dựa trên sự đóng góp của Nhà nước, NLĐ và NSDLĐ nhằm bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi mất việc làm,tạo điều kiện cho NLĐ sớm tìm được việc làm thông qua việc tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề cho NLĐ. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp Vai trò của BHTN không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo đời sống cho cá nhân người thất nghiệp, tạo cơ hội cho họ quay trở lại với thị trường lao động mà còn có ý nghĩa quan trọng góp phần ổn định chính trị- xã hội, tạo nên sự phát triển kinh tế-xã hội bền vững của mỗi quốc gia. Thứ nhất, đối với NLĐ: BHTN vừa giúp đỡ họ ổn định cuộc sống khi bị mất việc làm thông qua việc trả TCTN vừa tạo cơ hội việc làm mới cho họ thông qua việc đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để NLĐ có thể duy trì 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc làm hay tìm việc làm mới phù hợp với bản thân NLĐ, được tư vấn giới thiệu việc làm miễn phí để họ có thể sớm quay lại thị trường lao động.
Tạo ra chỗ dựa về vật chất và tinh thần cho NLĐ khi lâm vào tình trạng mất việc làm. Thứ hai, đối với NSDLĐ: BHTN giúp gánh nặng tài chính của họ sẽ được san sẻ khi những NLĐ tại doanh nghiệp bị mất việc làm, họ không phải bỏ ra một khoản chi lớn để giải quyết chế độ cho NLĐ khi mà NLĐ bị mất việc làm. Đặc biệt, trong những thời kỳ khó khăn, buộc phải thu hẹp sản xuất, buộc phải cho những NLĐ nghỉ việc. Thứ ba, đối với Nhà nước và xã hội: BHTN giúp cho ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt chi phí khi nạn thất nghiệp gia tăng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, tạo sự chủ động về tài chính cho nhà nước.
Kiểm soát rủi ro về xã hội, chính trị khi tỉ lệ thất nghiệp gia tăng. BHTN cũng góp phần rất lớn vào việc ổn định trật tự xã hội đây cũng là mục tiêu của bất kỳ hệ thống BHXH và an sinh xã hội nào. Nguyên tắc của bảo hiểm thất nghiệp Các nguyên tắc của BHTN được quy định cụ thể tại Điều 41 của Luật Việc Làm 2013, là những quan điểm, tư tưởng chủ đạo xuyên suốt và chi phối hệ thống các quy phạm pháp luật về BHTN. Bao gồm những nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHTN BHTN nằm trong hệ thống chính sách kinh tế-xã hội, góp phần đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ lao động.
Do vậy, BHTN dựa trên sự tương trợ giữa các cá nhân trong xã hội, theo đó số đông bù số ít. Chính vì vậy, việc tham gia vào BHTN phải là bắt buộc đối với NLĐ và NSDLĐ. Những chủ thể này đều có trách nhiệm tham gia BHTN và đây được coi là một nội dung trong HĐLĐ. Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý và hỗ trợ khi cần thiết.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, chế độ BHTN được xây dựng trên cơ sở quan hệ hữu cơ giữa đóng góp và thụ hưởng. Cụ thể là, mức đóng BHTN được tính trên cơ sở tiền lương của NLĐ, mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHTN. Điều này có nghĩa là phải có tỷ lệ tương xứng giữa đóng góp với thụ hưởng của NLĐ, hạn chế tới mức thấp nhất sự bù đắp của Nhà nước đối với quỹ BHTN. Một trong các vai trò quan trọng của BHTN là hỗ trợ cuộc sống cho NLĐ khi bị mất thu nhập do thất nghiệp gây nên.
Do đó, tỷ lệ hưởng và thời gian hưởng trợ cấp BHTN hàng tháng được quy định trên nguyên tắc đảm bảo mức sống tối thiểu cho NLĐ và được cân đối với mức đóng góp BHTN trước đó của NLĐ. Khi xác định mức hưởng trợ cấp BHTN một mặt căn cứ vào khả năng chi trả của quỹ BHTN, mặt khác còn đảm bảo khuyến khích NLĐ chủ động tìm kiếm việc làm nhằm thoát khỏi tình trạng thất nghiệp. Thứ tư, việc thực hiện BHTN phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, đảm bảo kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia. BHTN chủ yếu là hướng tới đối tượng là những NLĐ bị mất việc làm, NLĐ bị mất việc làm là hiện tại họ không có thu nhập, nhưng mà họ vẫn phải chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày, việc giải quyết BHTN không nhanh chóng, kịp thời hỗ trợ đúng lúc thì sẽ mất đi ý nghĩa của BHTN.
Nếu thủ tục giải quyết mà rườm rà, phức tạp, không thuận tiện dẫn đến việc tiếp cận chính sách BHTN gặp khó khăn, như vậy NLĐ cần được hỗ trợ sẽ khó tiếp cận với chính sách BHTN, thậm trí nhiều NLĐ sẽ bỏ quan quyền lợi được hưởng vì e ngại vì khâu giải quyết chính sách. Vì vậy đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của BHTN. Thứ năm, Quỹ BHTN được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ. Do quỹ BHTN được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia là: NSDLĐ, NLD và Nhà nước nên hoạt động của quỹ phải dựa trên nguyên tắc quản lý thống nhất, dân chủ, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công khai.
Quỹ BHTN do một cơ quan quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương theo chế độ tài chính của Nhà nước. Quỹ được sử dụng vào các mục đích như: Chi trả trợ cấp BHTN cho NLĐ; Chi cho các hoạt động tìm việc làm cho người thất nghiệp; Chi cho công tác đào tạo, đào tạo lại, học nghề cho người thất nghiệp; Chi phí cho hoạt động của bộ máy quản lý BHTN… Nhà nước thống nhất quản lý BHTN thể hiện ở việc Nhà nước trực tiếp ban hành pháp luật về BHTN, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện chế độ này. Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ mà Nhà nước xây dựng chương trình quốc gia về BHTN, các qui định pháp luật về như thu hẹp hay mở rộng đối tượng, điều kiện hưởng và mức hưởng… Với tư cách là người đại diện và thực hiện các chính sách xã hội, Nhà nước còn có trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHTN, áp dụng các biện pháp để bảo tồn giá trị quỹ và làm cho quỹ tăng trưởng. Ngoài ra, Nhà nước thống nhất tổ chức, quản lý sự nghiệp BHTN cho toàn xã hội nhưng không bao cấp, không lấy ngân sách để chi trả mà chỉ hỗ trợ một phần.
Khái quát thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp Pháp luật là một công cụ quản lý xã hội sắc bén, song pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trong cuộc sống. Vì vậy, thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu. Hiện nay đang có nhiều cách định nghĩa mô tả về việc thực hiện pháp luật.
Theo giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh có viết: “Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính quản lý. Quá trình hoạt động thực hiện pháp luật diễn ra đồng thời và tiếp nối quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước” [13, tr.