Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm công cụ 1. Tôn giáo Trong xã hội học cho đến nay có khá nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo, song các định nghĩa tôn giáo thường được chia thành hai nhóm: định nghĩa bản thể và định nghĩa chức năng. Durkheim đã đưa ra định nghĩa tôn giáo dựa trên sự kết hợp của hai lối định nghĩa là định nghĩa bản thể và định nghĩa chức năng: Định nghĩa chức năng về tôn giáo nhằm trả lời câu hỏi tôn giáo làm gì. Nhìn chung, cách định nghĩa theo chức năng đã xem xét tôn giáo có chức năng bộc lộ và tạo nên các giá trị và khế ước xã hội để duy trì xã hội.
Do vậy, cách định nghĩa này bị phê phán vì quá rộng, vì với cách hiểu như vậy, bất cứ cái gì thể hiện chức năng này đều là tôn giáo và nó khiến cho tất cả mọi người đều có niềm tin tôn giáo, cho dù người ta có thừa nhận hay phản đối tôn giáo (Hoàng Thu Hương, 2011) Khác với định nghĩa chức năng về tôn giáo, định nghĩa bản thể lại xem xét theo khía cạnh tôn giáo là gì, chứ không phải tôn giáo làm gì. Điểm chung của các định nghĩa bản thể là thường nhấn mạnh tới các yếu tố như siêu nhiên, siêu kinh nghiệm, siêu phàm. Nhóm định nghĩa này bị phê phán vì nhấn mạnh tới yếu tố niềm tin, ít đề cập đến khía cạnh thực hành và quá tập trung vào yếu tố siêu nhiên, siêu phàm.Những quan niệm về cái thiêng, đấng siêu nhiên thích hợp với nền văn hóa Phương Tây và không phải lúc nào cũng phù hợp với những 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nền văn hóa ngoài Phương Tây. Chẳng hạn như đạo Phật hay đạo Hindu, không tồn tại khái niệm về đấng sáng thế (Hoàng Thu Hương, 2011).
Định nghĩa của E. Durkheim về tôn giáo đã thể hiện được sự kết hợp của hai lối định nghĩa này: “Một tôn giáo là một hệ thống có tính chất gắn bó của những niềm tin và những thực hành liên quan đến những điều linh thiêng, nghĩa là được tách biệt, cấm đoán; những niềm tin và thực hành gắn bó tất cả những ai gia nhập vào một cộng đồng tinh thần, được gọi là Giáo hội”. Weber: “Một loại hành động đặc biệt thành cộng đồng” liên quan đến “các sức mạnh “siêu nhiên”. Khuôn các mối quan hệ của nó với con người tạo thành lĩnh vực hoạt động “tôn giáo” (Nguyễn Quốc Tuấn, 2013).
Parsons: “Một tổng thể các tín tưởng, các thực hành và các thiết chế mà con người triển khai trong các xã hội khác nhau, trong chừng mực mà chúng có thể được hiểu như là những câu trả lời cho các khía cạnh của cuộc sống hay tình trạng của con người mà cuộc sống và tình trạng ấy được xem như không thể hiểu được hay không thể làm chủ được theo tinh thần của tính hợp lí kinh nghiệm - công cụ, và những tín tưởng, thực hành, thiết chế ấy gắn chặt với một đặc trưng bao gồm một số cách thức quy chiếu với một trật tự “siêu nhiên” được tưởng tượng và cảm nhận như là nền tảng về vị trí của con người trong vũ trụ và về các giá trị đưa lại ý nghĩa như mục đích của cá nhân và những mối liên hệ đồng dạng của nó” (Nguyễn Quốc Tuấn, 2013). Dobbelaere: “Một hệ thống thống nhất các tín tưởng và thực hành liên quan đến một thực tế siêu kinh nghiệm, siêu việt, mà thống nhất tất cả những ai tin theo với mục đích tạo thành duy nhất một cộng đồng đạo đức”. Người nhập cư Theo Cơ quan thống kê EU (Eurostat), người nhập cư là “những người đến hoặc trở về từ nước ngoài để về sống ở một đất nước trong một thời gian nhất định, trước đó họ đã cư trú ở một nơi khác”. Trong khi đó, theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “người nhập cư dài hạn là những người ở lại nước tiếp nhận trong thời gian 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hơn một năm, mặc dù họ không liên tục sinh sống tại nước đó trong vòng hơn một năm” (Trần Thị Hương, 2012).
Dưới góc độ địa lý, nhập cư là sự chuyển đến của một người hoặc một nhóm người từ một đơn vị địa lý khác, vượt qua biên giới hành chính, chính trị với mục đích cư trú lâu dài hoặc tạm thời. Nhập cư có thể diễn ra giữa nước này với nước khác, hoặc giữa vùng này với vùng khác trong cùng một nước (Trần Thị Hương, 2012). Dưới góc độ nhân quyền, một số định nghĩa nhấn mạnh đến tính tự nguyện của việc nhập cư. Với cách tiếp cận này thì người nhập cư hoàn toàn là người tự nguyện và vì những lý do cá nhân, họ rời khỏi nước gốc (Trần Thị Hương, 2012).
Nghiên cứu này định nghĩa người nhập cư là những người đến Hà Nội trong vòng từ 1 tháng đến 10 năm trước thời điểm phỏng vấn và là những người không có hộ khẩu thường trú ở thành phố trước khi họ đến. Nhập cư ngắn hạn là từ 1 tháng đến 1 năm và nhập cư trung hạn từ hơn 1 năm đến 5 năm và nhập cư dài hạn từ hơn 5 năm đến 10 năm. Khái niệm người dân địa phương trong nghiên cứu này được dùng để chỉ nhóm đối lập với người nhập cư tức là những người được sinh ra và lớn lên tại Cổ Nhuế, có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội. Người Công giáo nhập cư Thuật ngữ Công Giáo được dùng để dịch chữ Hi Lạp katholikos, từ gốc là kat’holon, với ý nghĩa đó là đạo chung, đạo phổ quát, đạo công cộng đón nhận mọi người, chứ không riêng cho dân tộc hay quốc gia nào.
Thuật ngữ "Công Giáo" thường được dùng để nói về "Công Giáo Rôma". Từ "Rôma" dùng để chỉ vai trò trung tâm của giáo tông Rôma đối với Giáo hội này và theo định nghĩa mọi tín đồ Công Giáo Rôma hiệp thông trọn vẹn với vị giáo tông này khi là thành phần của Giáo Hội La Tinh (Tây Phương), chiếm đa số hay thuộc hơn 20 Giáo Hội Đông Phương nhỏ hơn, chấp nhận "quyền lực phổ quát, tối cao và trọn vẹn trên Giáo Hội hoàn vũ" của giáo tông tại Rôma. Bốn đặc tính của Giáo Hội là: "Duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền". Những Giáo Hội chấp nhận các đặc tính trên cũng có thể gọi là Công giáo.
Nên thuật từ Công Giáo không phải chỉ là thuật từ chuyên biệt của Giáo Hội Công giáo Rôma.com/HOCHOI/MucVu/106CongGiao) 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Người Công giáo nhập cư theo nghiên cứu này được định nghĩa là những người theo đạo Công giáo đã được rửa tội theo nghi thức của Giáo hội Công giáo Rôma, tuân giữ những giáo lý và giáo luật cũng như truyền thống của Giáo hội Công giáo, đến Hà Nội trong vòng từ 1 tháng đến 10 năm trước thời điểm phỏng vấn và là những người không có hộ khẩu thường trú ở Hà Nội. Nhóm đối lập với người Công giáo nhập cư là người Công giáo địa phương được định nghĩa là những người theo đạo Công giáo đã được rửa tội theo nghi thức của Giáo hội Công giáo Rôma, tuân giữ những giáo lý và giáo luật cũng như truyền thống của Giáo hội Công giáo, gồm những người sinh ra và lớn lên tại Hà Nội và những người có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội. Niềm tin và sự thực hành nghi lễ của người Công giáo “Niềm tin tôn giáo là mức độ tin tưởng vào những tín lý, giáo lý, học thuyết của một tín đồ, một cộng đồng tín đồ mà họ theo” (Nguyễn Hồng Dương, 1995). Thế nào là niềm tin tôn giáo? Ở đây xin mượn ý kiến của GS.
Minh Chi viết về niềm tin tôn giáo: “Niềm tin tôn giáo hay trong hợp từ tín ngưỡng tôn giáo hàm ý một niềm tin ở những cái siêu nhiên, nhưng đối với tôn giáo vẫn rất hiện thực, thậm chí còn hiện thực hơn cả thế giới hiện tượng nữa, nhưng vẫn ở ngoài tầm nắm bắt của giác quan và tri thức của con người bình thường” (Võ Văn Thành, 2014). Đối với người Công Giáo, niềm tin tôn giáo được thể hiện ngay trong Kinh Tin Kính mà người Công giáo đọc vào mỗi ngày lễ Chủ Nhật và các ngày lễ trọng. Cụ thể, niềm tin của người Công giáo bao gồm: niềm tin vào một Thiên Chúa có Ba Ngôi (Ngôi Cha dựng nên Trời Đất, Ngôi Con cứu chuộc và Ngôi Thánh Thần thánh hóa); tin có thiên thần và ma quỷ; tin có Thiên Đàng, hỏa ngục; tin vào phép tha tội; tin có ngày tận thế; tin có ơn Cứu Độ. Khái niệm nghi lễ Nghi lễ được định nghĩa như một chuỗi cử chỉ để đáp ứng những nhu cầu chủ yếu; những cử chỉ đó phải được thực hiện theo một chuẩn mực hài hòa nào đó.
Theo gốc tiếng Phạn, từ này chỉ điều được thực hiện theo lệnh (rita). Nguồn gốc của từ đã mất từ xa xưa và ngay cả những người thực hiện nghi lễ cũng không biết đến, mặc dù họ được truyền lại lịch sử của nó. Đó là những cử chỉ đơn giản đã trở thành 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách thức thực hiện bao gồm: hát, nhạc, lời nói tả lại những điệu bộ tự nhiên, những điệu bộ này đầu tiên là phản ứng bột phát trong những hoàn cảnh tương tự và nhằm đáp ứng những nhu cầu giống như vậy. Đó là những cử chỉ cơ bản mà chúng ta vẫn làm hàng ngày trong cách sống của mình khi đi lại, khi mặc quần áo, khi thể hiện lòng nhân từ hay thù địch.
(Lê Thanh Hà) Các loại nghi lễ Nghi lễ có tầm quan trọng rất lớn đối với các tín đồ. Nếu huyền thoại hay giáo lý thu hút con người ta bằng lời thì nghi lễ làm phong phú thêm lời nói bằng những hành vi tạo ra một trường tôn giáo – một ngôn ngữ hành động – cuốn hút con người ta không chỉ một lần mà nhiều lần, được lặp đi lặp lại, nhằm tạo nên một tập quán ăn sâu vào tâm thức tôn giáo của các thành viên trong cộng đồng – một cộng đồng thống nhất và sống động. (Lê Thanh Hà, giáo trình tôn giáo học) Có nhiều loại nghi lễ nhưng có thể chia thành 3 loại sau: Những nghi lễ tuân thủ theo chu kỳ thời gian: đây là những nghi lễ được các tôn giáo tổ chức theo tháng, hàng năm, theo chu kỳ 10 năm, 12 năm, 100 năm… Những nghi lễ tuân thủ theo chu kỳ đời người: đây là những nghi lễ liên quan đến những thời kỳ chuyển tiếp của đời một con người.