Chương 1: Một số van dé ly luận vả pháp luật về thuận tinh ly hôn. Chương 2ˆ Thực tiễn giải quyết thuận tinh ly hôn trên dia bản tỉnh Cao Bang và một số kiến nghỉ. CHƯƠNG1 MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUAT ‘VE THUẬN TINH LY HON 1. Một số vấn đề ly luận về thuận tình ly hôn.
Khái niệm ly hon Ly hôn la thuật ngữ được sử dung khá phổ biến trong ngôn ngữ hang ngày. Trong Tir điển “Tử và ngữ Việt Nam” định nghĩa “li hôn là vợ chẳng bỏ nhau", Đây là thuật ngữ đời thưởng và dân đã nhất, có nghĩa là người có quan hệ vợ chẳng không can đến nhau, cuộc sống của người nay không cần đến sự hiện điện của người kia va thể hiện rõ nhất lả không còn cùng chung sống Trong đời sống, thuật ngữ ly hôn được dùng để chỉ những người đã cham đứt quan hệ vợ chống. Mét thuật ngữ khác lả "li di” cũng được sit dung kha phổ biển để chỉ việc ly hôn. Dù với tên gọi la “ly hôn” hay “li dị” thì déu nói tới tinh trang hôn nhân tan vỡ, vợ chéng không còn quyền, nghĩa ‘vu với nhau.
Theo Tir điển Luật học: "Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng do Toa ăn công nhân hoặc quyết định theo yêu céu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng“. Theo định nghĩa này thì ly hôn là việc hai người chấm dit, không còn rang buộc về quyền và ngiĩa vụ cũng như mỗi quan hệ tỉnh cảm. vợ, chẳng và việc chấm đứt quan hệ vợ, chồng phải do Toa án cổng nhận, quyết định trên cơ sở yêu câu của một bên vợ hoặc chẳng hoặc của cã hai vợ chẳng Theo định nghĩa nay, sự kiện ly hén sẽ diễn ra khi có đủ hai yếu tổ "Thứ nhất là vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chẳng có yêu cầu ly hôn, thứ hai là phan quyết của Téa án công nhận hoặc quyết đính cho hai bên vợ chồng ly ` 65 Nguyễn Lin 2009), Tà dn nevi ngĩ Vit Nem, No, Tổng hẹp TP Hỗ Chí ah, 1057 “Viner hoc hp Ý - Bộ Trulp 2006), Từ in Vuật học, eb. Medi Bích doe va Neb.
Tephip, ANGLE 460 10 hôn. Ly hôn là hiện tượng xã hồi có sự điển chỉnh can thiệp cia Nha nước thông qua cơ quan có thẩm quyển là TAND trên cơ sở các quy định của pháp luật. Hai bên vơ chồng chỉ được coi là đã ly hôn khi được Tòa án công nhận, quyết định. Tòa án chỉ ra quyết định ly hôn hoäc công nhận cho hai bên ly thôn khi có yêu cầu cia vơ hoặc chồng hoặc cả hai vợ ching “Ly hôn là mốt mat của quan hé hôn nhân.
Néu kết hôn 1a hiện tượng tình thường nhằm sắc lập quan hệ vo chồng thi ly hôn la hiện tượng bắt tình thường, là mặt trải của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ 5. Theo cách tiếp cận nay, ly hôn và kết hôn là hai mặt của một vẫn để, trải ngược nhau vẻ bản chất. Ly hôn chỉ đặt ra đổi với các cặp vợ ching ma không đặt ra đổi với những người chung sống với nhau ma không kết hôn. Quan hệ hôn nhân ph: được nhìn nhận toàn điền, đẩy dit ở hai mất lả kết hôn và ly hôn, kết hn tượng trưng cho sự hợp nhất, bắt đầu, khởi đầu, còn ly hôn chính lả biểu hiện của sự tan vỡ.
Không phải tắt cả mọi cấp đôi kết hôn déu đạt được mục đích hôn nhân nên. ly hôn là điều không thể tránh khỏi, khi đỏ ly hôn trở thành sự giải thoát nhân văn để thoát khỏi một mối quan hệ đã không còn ý nghĩa. Chính vi vay, ly hôn lả mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiều được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Tir những định nghia trên, tác giả đưa ra quan điểm cá nhân vé định.
nghĩa ly hôn như sau: Ly hô là sự hiện pháp If làm chấm đứt quan hệ vợ ching theo bản án, quyết dinh có hiệu lực pháp luật cia Téa án trên cơ số yêu câu của người có quyén yêu cầu iy hôn và việc áp dung các quy dinh của: _pháp luật liên quan ˆ Tgờng Deihoc Toật Hi Nội G005), Gio with Luật Hiên hân vi ga đồ Vt Men, 28 Cổng nhân, đản, HANG, tr 251 ul 1. Quan điểm của Nhà nước Việt Nam về ly hôn Dưới chế đồ cũ, quyển yêu cầu ly hôn va các duyén cớ ly hôn theo luật định thường đưa trên quan hệ bất bình đẳng giữa vợ chẳng. Từ khi Nha nước Việt Nam Dan chủ công hỏa, nay la Nha nước công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đồi, Bang va Nha nước ta luôn lẫy chủ nghĩa Mác - Lénin, tư tưởng Hé Chí Minh lâm nên ting tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hảnh. Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lénin về gia đình nói chung, vé ly hôn nói riêng, hệ thống pháp luật của Nhà nước ta đều ghi nhân vả bao vệ quyển tự do kết hôn và quyển tự do ly hôn.
Quyển tự do ly hôn lả quyển chỉnh đảng và binh đẳng giữa vơ chẳng, “người ta không thể là một người dân chủ va xã hội chủ nghĩa néu ngay tir bay gid không đòi quyển hoán. toán từ do ly hôn, vi thiểu quyền tự do ấy là một sự ức hiếp lớn đổi với giới bị áp bức, đối với phụ nữ Tuy hoàn toản chẳng khó khăn gì ma không hiểu được rằng khi tu thừa nhận cho phụ nữ tư do bé chẳng thi không phải là ta khuyên tất cd họ bỏ chẳng”®. Van để ly hôn được pháp luật quy định theo hướng vừa tôn trọng, bão. vé quyển tự do ly hồn chính đảng của vợ chẳng, vita quy định giải quyết ly hôn trên cơ sở có lý, có tinh và đưới sự kiểm soát chặt chế của Nha nước thông qua công cụ quản lý là pháp luật.
Tức là ly hôn vẫn nằm trong nội dung. quyên dân sự của cả nhân. Vợ chẳng được tự do ly hôn, nhưng quyển tư do đỏ được đất dưới sự giám sát chất chế của Nha nước và tuân theo các quy định của pháp luật, nhằm tránh hiện tượng vợ chẳng lam dung gây hâu quả xấu cho gia đính và xã hội, đồng thời, cũng tránh việc giải quyết ly hôn tùy tiên. Toa an chấp nhận yêu cẩu ly hôn của vợ, chồng hoặc công nhân thuân.
tình ly hôn của vợ chồng phải dựa vào thực chất quan hệ vợ chẳng va phải “Typha VỀ mt arbilm hea của ha ngất Mác — Lônh vì về đề ngất eb để quốc, Toàn tp, Tip 30,N Tổnhà,Mescsta 1981,m 163 12 phù hop với các căn cứ ly hôn mà pháp luật quy định. Khi vợ chẳng ly hôn, các quyền và nghia vụ giữa vợ và chẳng vẻ nhân thân va tải sản, quyền va nghia vụ giữa vợ, chồng đối với con cái sé được giải quyết theo pháp luật. Kể từ ngày bản án cho ly hồn hoặc quyết định công nhận thuân tinh ly hôn của Toa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân mới chẩm dứt. Pháp luật của Nhà nước ta công nhân quyển tự do ly hôn chính đồng, của vo chẳng, không thể cắm hoặc đất ra những điểu kiên nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn Ly hôn dua trên sự tư nguyện của vợ chẳng, nó là kết quả của hành vi có ý chi của vợ chẳng khi thực hiện quyển ly hôn của mình.
Nha nước bang pháp luật không thé cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn. với nhau, thi cũng không bắt bude vợ chẳng phải chung sống với nhau, duy tri tình trạng hônnhân khí tinh cảm yêu thương giữa họ đã hết, mục đích cia hôn. nhân đã không thé dat được, quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Khi đó, ly "hôn là điều cần thiết cho cả vợ chồng, gia đỉnh va x8 hoi, vi nó giải phóng cho vợ, chẳng, con cái cũng như các thành viên trong gia đính thoát khối những mâu thuẫn, xung đột, bể tắc trong đời sống chung.
Quy định vẻ van dé ly hôn. tự do đưới sự kiểm soát của Nha nước vừa cho phép cơ quan Nha nước có thấm quyển can thiệp vo sư hình thành suy nghĩ của vợ, chẳng về vấn để ly hôn đồng thời vẫn tôn trọng ÿ chí thực, nghiêm túc và chắc chắn của vợ, ching hoặc của cả hai vé việc duy ti hay không duy trì cuộc sông chung, Tom lại, pháp luật của Nha nước ta thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyên và tién bộ, bão dim quyền tự do hôn nhân bao gém quyển tự do kết ôn cia nam, nữ và quyền tự do ly hôn của vợ chồng, giải quyết ly hôn dựa ảo quan hệ hôn nhân có thực chất còn tôn tai hay không. Khái niệm thuận tình by hôn. Tmận tình ly hôn là vợ chẳng cùng yêu cẩu Tòa án nhân dân cho phép được ty hin”.
Theo quy định tai Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014 được sắc đính là thuận tình ly hôn trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyên ly hôn và đã thỏa thuên vé việc chia tải sẵn, việc trồng nom, nuôi dưỡng, chấm sóc, giáo duc con trên cơ sỡ bao dim quyền lợi chỉnh đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, trường hợp không théa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đăm. quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn. Theo quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng. Thuận tinh la việc các bên cing bảy tö ý kiến, quan điểm giống nhau, cùng đồng ý, nhất trí, thống nhất vẻ một van dé, Ly hôn là sự kiện pháp lý chấm đút quan hệ vợ chẳng theo ân án, quyết định có hiệu lực pháp luật cia Tòa án trên cơ sở yêu cầu của người có quyển yêu cẩu ly hôn và việc áp dụng các quy đính của pháp luật ‘Theo quy định của pháp luật Việt Nam, ly hôn có hai trường hợp sảy ra, xuất phát từ sự lựa chon của hai vợ chẳng.
Một la, thuân tình ly hôn (theo Điều 55 Luật HN&GD năm 2014). Hail, ly hôn theo yêu cẩu của một bên (Điều 56 Luật HN&GB năm 2014). Củng là ly hôn va được Tòa án gidi quyết nhưng thuận tinh ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên có sự khác biệt cơ bản.