MỞ ĐẦU 1. Đặt van đề Ba cơm dừa là phần xơ bã còn lại của com dừa sau khi ép lay dich sữa dừa, là phụ phẩm của công nghiệp chế biến các sản phẩm từ cơm dừa tươi như dầu dừa tươi, sữa dừa, bột sữa dừa, kẹo dừa. Bã cơm dừa thu được sau khi chiết xuất sữa là một sản phẩm phụ không ăn được của ngành công nghiệp dừa và chỉ có một phần nhỏ của nó đang được sử dụng làm phân bón hoặc thức ăn cho bò. Số lượng lớn bã dừa dừa của sản phẩm còn lại dé thối rữa như vật liệu phế thải.
Ba dừa đã khử chat béo này, sau khi khai thác sữa và sây khô, có thể được sử dụng như là chất xơ. Chất xơ thực phẩm bao gồm một các polysaccharide phi tinh bột, bao gồm cellulose, hemicellulose,. không bị phân hủy bởi các enzyme trong hệ tiêu hóa. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chế độ ăn uống giàu chất xơ có thể ngăn ngừa một số bệnh tật như táo bón, trĩ, tăng cholesterol máu và ung thư đại trực tràng, và giúp cải thiện tình trạng sức khỏe Cho đến nay việc nghiên cứu công nghệ chế biến để nâng cao giá trị bã cơm dừa ở nước ta vẫn chưa được quan tâm đúng mực.
Trong khi đó, nếu được đầu tư khai thác một cách hiệu qua hơn thì nguồn lợi thu được từ loại phụ phẩm này có thé góp phân không nhỏ trong việc làm hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh cho các sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến dừa. Vì vậy, chúng tôi quyết định thực hiện dé tài : “Nghiên cứu thu nhận xơ thực phẩm từ bã com dừa bằng phương pháp enzyme” 1. Mục tiêu nghiên cứu Khai thác tiềm năng dinh dưỡng hữu ích của nguồn phụ phẩm bã cơm dừa từ các nhà máy chế biến dừa, tạo ra bột xơ thực phẩm có giá tri sử dụng cao. Nói dung nghiên cứu Luận văn này được thực hiện với các nội dung: - Xác định thành phan hóa học và thành phan chất xơ của nguyên liệu - Nghiên cứu loại bỏ các thành phần không phải chat xơ Nghiên cứu phương pháp thu nhận bột xơ dừa thực phẩm Đánh giá chất lượng sản phẩm bột xơ dừa.
CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Giới thiệu nguồn nguyên liệu Dừa có tên khoa học là Cocos nucifera, thuộc ho Cau, là thành viên duy nhất trong chi Cocos. Phan loai khoa hoc: Gidi: Plantae Bộ: Arecales Ho: Arecaceae Phan họ: Arecoideae Chi: Cocos Loai: Cocos nucifera Dừa là loại cây lâu năm, phát triển tốt trên đất pha cát va có khả năng chống chịu mặn tốt, từ vùng đất cát ven biển đến đất phù sa nhiễm mặn nhẹ. Việt Nam năm trong 10 quốc gia có diện tích trồng dừa lớn nhất thế giới.
Điều kiện khí hậu và thé nhưỡng Việt Nam phù hợp cho cây dừa sinh trưởng, nhất là Đồng băng Sông Cửu Long (Bến Tre.) và khu vực Duyên hải miền Trung. Diện tích dừa của Việt Nam có khoảng 200.000 ha, phân bố chủ yếu ở miền Trung và đồng băng sông Cửu Long. Riêng đồng bằng sông Cửu Long chiếm hơn 78% diện tích dừa cả nước, khoảng 156 000 ha. Dừa là loại cây trồng cho thu hoạch hàng tháng.
Từ quả dừa cho đến tất cả các bộ phận của cây dừa đều có thể cho ra nhiều lọai sản phẩm khác nhau. cơm dừa được chú trọng khai thác tối đa dé ép lay dau làm nguyên liệu trong các ngành công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, nhiên liệu sinh học. Thành phan dinh dưỡng của cơm dừa tươi (Theo USDA) Thành phân Giá trị trên 100g Nước 46,99 g Nang luong 354 kcal Protein 3,33 g Lipid tong 33 49 Carbohydrate 15,23 g Xơ 9ø Đường 6,23 g Tro 0,97 g Vitamin 17,15 mg Nguôn: Co sở dit liệu USDA (United States Department of Agriculture) Bộ Nông Nghiệp Hoa ky. Hang năm có khoảng 12,22 triệu tan com dừa khô được khai thác.
Do đó, bã com dừa- phan xơ bã còn lại của com dừa sau khi ép lấy dich sữa dừa- là một phụ phẩm dôi dào từ ngành dừa. Trong bã cơm dừa nay thì thành phần hóa học chính là chất xơ (bảng 2. Thành phần hóa học của bã cơm dừa [30] Thành phân Giá trị (%) Độ am 3,6 Tro 3,1 Lipid 10,9 Protein 12,1 Carbohydrate 703 Xo tong 60,9 Xo không hoa tan 56,8 Xo tan 3. Xo thực phẩm Chat xơ thực phẩm là tên gọi chung của nhiều nhóm chất có nguồn gốc từ thực vật, không bị thủy phân bởi các enzyme tiêu hóa của con người.
Chúng bao gôm cả oligosaccharide và polysaccharide như cellulose, hemicelluloses, các hợp chat pectic, gum, lignin cũng như inulin và các thành phan phi-carbohydrate khác (ví dụ như: polyphenol, sáp, saponin, cutin) và cả tinh bột biến tính. [11] Một số tác giả xác định xơ thực phẩm là carbohydrate không bị tiêu hóa và lignin, ton tại trong thực vật, có tác dung sinh lý có lợi ở người; một số khác cho rang chúng là polyme carbohydrate không bị tiêu hóa có cấu tạo từ ba monomer trở lên; số khác lại cho răng chất xơ là carbohydrate không bị tiêu hóa, lignin tìm thấy trong thực vật, và các carbohydrate tong hợp ma không bị tiêu hóa. Một định nghĩa rộng hơn của chất xơ còn bao gồm cả các polymer có nguồn gốc động vật không bị tiêu hóa (số monomer >3), ví dụ như polydextrose, fructo-oligosaccharides. Phân loại xơ thực phẩm Tungland và Meyer (2002) đã đề xuất hệ thông phân loại dé phân loại các thành phan của chất xo.
Việc phân loại được chấp nhận rộng rãi nhất phân biệt dựa trêntính tan của nó một bộ đệm có độ pH xác định và chất xơ được phân thành hai loại: xơ không tan ( cellulose, hemicellulose, lignin) và xơ tan ( pectin, gum và các chất nhầy)(Anita va Abraham 1997). Các mạch cellulose được liên kết với nhau nhờ liên kết hydro và liên kết van Der Waals, hình thành hai vùng cấu trúc chính là tinh thể và vô định hình. Trong vùng tinh thể, các phân tử cellulose liên kết chặt chẽ với nhau, vùng này khó bị tấn công bởi enzyme cũng như hóa chất. Ngược lại, trong vùng vô định hình, cellulose liên kết không chặt với nhau nên dé bị tan công.
Cellulose có cấu tạo tương tự carbohydrate phức tạp như tính bột và glycogen. Các polysaccharide này đều được cấu tạo từ các đơn phân là glucose. Cellulose là glucan không phân nhánh, trong đó các gốc glucose kết hợp với nhau qua liên kết B-1, 4- glycoside, đó chính là sự khác biệt giữa cellulose và các phân tử carbohydrate phức tạp khác. Giống như tỉnh bột, cellulose được cấu tạo thành chuỗi dài gồm ít nhất 500 phân tử glucose.
Các chuỗi cellulose này xếp đối song song tao thành các vi sợi cellulose có đường kính khoảng 3,5 nm. Mỗi chuỗi có nhiều nhóm OH tự do, vì vậy giữa các sợi ở cạnh nhau kết hợp với nhau nhờ các liên kết hidro được tạo thành giữa các nhóm OH cua chúng. Các vi sợi lại liên kết với nhau tạo thành vi sợi lớn hay còn gọi là bó mixen có đường kính 20 nm, giữa các sợi trong mixen có những khoảng trồng lớn. Khi tế bào còn non, những khoảng này chứa đây nước, ở tế bào già thì chứa day lignin va hemicellulose.
Aspinall (1970) đã nghiên cứu rằng cellulose không hòa tan trong kiềm mạnh và có phần (10-15%) cua cellulose, được gọi là "vô định hình”, dễ dàng bị axit thủy phân. Cellulose không được tiêu hóa bởi các enzyme của hệ thống tiêu hóa con người > Hemicellulose Hemicellulose là một loại polymer phức tap va phân nhánh, độ trùng hop khoảng 70 đến 200 don phân. Hemicellulose chứa cả đường 6 carbon gém glucose, mannose và galactose và đường 5 carbon gồm xylose và arabinose. Thành phan co ban của hemicellulose là B- D xylopyranose, liên kết với nhau bằng liên kết B-(1 4).
Cau tạo của hemicellulose khá phức tạp và da dạng tùy vào nguyên liệu, tuy nhiên có một vài điểm chung gồm: -Mạch chính của hemicellulose được cau tao từ liên kết B-(1 4). -Xylose là thành phan quan trong nhất. -Nhóm thế phổ biến nhất là nhóm acetyl O — liên kết với vị tri 2 hoặc 3. - Mạch nhánh cấu tạo từ các nhóm đơn giản, thông thường là disaccharide hoặc trisaccharide.
Sự liên kết của hemicellulose với các polysaccharide khác và với lignin là nhờ các mạch nhánh này. Cũng vì hemicellulose có mạch nhánh nên tỒn tại ở dạng vô định hình và vì thế dễ bị thủy phân. Arabinoxylan HemicelluloseB Hình 2. Cau trúc của phân tử hemicellulose Hemicellulose là polysaccharide trong vách tế bào tan trong dung dịch kiềm và có liên kết chặt chẽ với cellulose, là một trong ba sinh khối tự nhiên chính.
Cùng với cellulose và lignin, hemicellulose tạo nên thành tế bào vững chắc ở thực vật. Về cau trúc, hemicellulose có thành phân chính là D-glucose, D-galactose, D-mannose, D-xylose và L-arabinose liên kết với các thành phần khác băng liên kết glycoside. Hemicellulose còn chứa cả axit 4-O-methylglucuronic, axit D-galacturonic và axit glucuronic. Trong đó, đường D-xylose, L-arabinose, D-glucose và D-galactose là phố biến ở thực vật thân cỏ và ngũ cốc.
Tuy nhiên, khác với hemicellulose của thực vật thân 26, hemicellulose ở thực vat than cỏ lại có lượng lớn các dạng liên kết và phân nhánh phụ thuộc vào các loài và từng loại mô trong cùng một loài cũng như phụ thuộc vào độ tuôi của mô đó. Tùy theo trong thành phan của hemicellulose có chứa monosaccharide nào mà nó sẽ có những tên tương ứng như manan, galactan, glucan va xylan. Các polysaccharide như manan, galactan, glucan hay xylan đều là các chất phố biến trong thực vật, chủ yếu ở các thành phần của thành tế bào của các cơ quan khác nhau như 26, rom ra, V. Trong các loại hemicellulose, xylan là một polymer chính của thành tế bào thực vật trong đó các gốc D-xylopyranose kết hợp với nhau qua liên kết B-1,4-D- xylopyranose.
Da số phân tử xylan chứa nhiều nhóm ở trục chính và chuỗi bên. Các gốc thay thế chủ yếu trên khung chính của xylan là các gốc acetyl, arabinosyl và glucuronosyl. Các nhóm nay có đặc tính liên kết tương tác cộng hóa trị và không hóa tri với lignin, cellulose và các polymer khác. > Lignin Lignin là một phức hop chat hóa học phố biến được tìm thay trong hệ mach thực vật, chủ yếu là giữa các tế bào, trong thành tế bào thực vật.
Lignin là một trong các polymer hữu cơ pho biến nhất trên trái đất. Lignin có cấu trúc không gian 3 chiều, phức tạp, vô định hình, chiếm 17% đến 33% thành phần của gỗ. Lignin không phải là carbohydrate nhưng có liên kết chặt chẽ với nhóm nay để tạo nên thành tế bào giúp thực vật cứng chắc và giòn. Lignin chứa các polyphenol có cau trúc mở.
Trong tự nhiên, lignin chủ yếu đóng vai trò chất liên kết trong thành tế bào thực vật, liên kết chặt chẽ với mạng cellulose và hemicellulose. Rất khó dé có thé tach lignin ra hoàn toàn.