CHƯƠNG 1: TONG QUAN 1. TONG QUAN VE NGUYEN LIEU 1. Tinh hình xuất khẩu mực ống a. Sản lượng khai thác Sản lượng khai thác mực ống trên toàn vùng biển Việt Nam hằng năm khoảng 24.000 tan, trong đó vùng biến miền Nam có sản lượng cao nhất là khoảng trên 16.000 tan (chiếm 70%), Vịnh Bắc Bộ chiếm sản lượng lớn thứ nhì, khoảng 5000 tan (20%), còn biên miền Trung có sản lượng thấp nhất khoảng 2.
Tình hình xuất khẩu mực tại Việt Nam Tính đến hết tháng 9/2017, tong giá trị xuất khâu mực, bach tuộc của Việt Nam đạt 457.9 triệu USD, tăng 53.5% so với cùng k_ năm trước. Gia tri xuất khâu sang top 9 thị trường chính déu tăng trưởng tốt so với cùng k_ năm 2016. XUẤT KHAU MỤC, BACH TUỘC CUA VIỆT NAM €6 , 88 o© 79 TUrSeDw ”¬ =œ Hình 1. Tình hình xuất khẩu mực và bạch tuộc của Việt Nam năm 2016 và 2017 Các sản phẩm mực tiếp tục là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong năm nay, chiếm 58.6% tổng giá trị xuất khẩu trong 9 thang đầu năm.
Trong các dòng sản phẩm mực, bạch tuộc xuất khẩu, mực tươi, sống và đông lạnh chiếm tỷ trọng cao nhất 38. Các sản phẩm bạch tuộc khô/muối/tươi sống va đông lạnh chiếm 34%. ASEAN 11,475% _Trung Quéc 7.1,347% | Các TT khac 4 611% Hình 1. Cơ cấu thị trường nhập khẩu mực, bạch tuộc 9 tháng đầu năm 2017 Hiện nay mực, bạch tuộc của Việt Nam xuất khâu sang 65 thị trường.
Trong đó, tong giá trị xuất khẩu sang 9 thị trường lớn chiếm 99% bạch tuộc trong 9 tháng đầu năm nay. Xuất khẩu mực, bạch tuộc trong quý cudi cùng của năm nay vẫn sẽ tiếp tục khả quan. (Nguồn Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam) Từ tình hình sản xuất và xuất khẩu như trên thấy được răng có một lượng lớn phế liệu nang mực đựợc thải ra trong quá trình chế biến và cần có biện pháp xử lý một cách khoa học nhăm tận dụng nguôn phê liệu hữu ích này tạo nên móng cho công nghiệp sản xuất N-acetyl-glucosamine va cac nganh cong nghiệp khác. Nguồn phé liệu — nang mực ống a.
Giới thiệu về mực ống Phân bo Biển và đại dương chiếm 70 - 78% diện tích bề mặt Trái Dat (361 triệu km?). Khoảng 10 - 12 triệu tan đạm động vật được khai thác hăng năm từ các sinh vật biển, chiếm gan 1/3 nhu cau của con người về đạm động vật.5 tỷ người sống ở khu vực An Độ Dương va Thái Binh Duong dùng các sản phẩm của biến va Đại dương là nguồn cung cấp đạm chủ yếu. Việt Nam có có trên 3200km bờ biến, vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km? (gap 4 lần diện tích dat liên). Theo thông tin và phân tích của các chuyên gia nguôn lợi và quản lý, khả năng đánh bắt ở vùng biến ven bờ đạt khoảng 700 000 tắn/năm, trong đó mực chiếm bình quân 3.5% sản lượng thuỷ sản.
(Theo Hiệp hội chế biến và xuất khâu thủy sản Việt Nam) Mực phân bố khắp các vùng biến và đại dương trên toàn thé giới. Nó có thé sống ở vùng biển nóng và có nồng độ muối cao. Mực có tính hướng quang mạnh và rat nhạy cảm với hiện tượng thời tiết. Khi có hiện tượng sắp giông bão, mực rút ra xa bờ va tập trung xuống sâu có thé đến 5000 — 6000m.
Những lúc mặt trời lặn, mực thường noi lên trên mặt nước để lay không khí, ban ngày thi mực tập trung xuống sâu. Trong quá trình sinh sản hoặc di cư tìm mỗi, mực tập trung thành đàn sống thành quan thé. Mực di chuyển rất nhanh, khi gặp kẻ thù thì chúng phun túi mực den ra rồi lẫn vào đá. Đời sống của mực rất ngăn, riêng mực cái thường chết sau khi đẻ xong.
Tuy nhiên, số lượng mực con được bố sung thường xuyên. Mực có khả năng lớn nhanh, đạt đến cỡ trưởng thành khoảng 6 tháng đến 1 năm tùy loại. Mực thường sống ở vùng ven thêm lục địa, gần sát dốc ngang bờ, ở nơi có chất đáy là cát trộn lẫn với vỏ sò, hến, đá vụn hay những vùng đá ngầm bằng phăng có độ sâu nước từ 100 + 300m, chỗ có nhiệt độ thay đổi đột ngột. Ngoài ra, mực còn sống ở những chỗ nước sủi bọt và nước xoáy.
Đây chính là chỗ tập trung của sinh vật phù du, đồng thời cũng là ngu6n thức ăn hap dẫn cho mực. Mùa vụ của mực rộ nhất là từ tháng 4 đến tháng 9. Đặc biệt là các tháng 7, tháng 8 và 9. Thông thường, người ta có thể đánh bắt mực quanh năm và lúc thuỷ triều thay đổi là tốt nhất.
Mực thường kiếm ăn vào ban đêm, còn ban ngày mực chìm xuống đáy. Mực lớn lên hình thành tuyến sinh dục ở ngoài khơi, đến khi sinh sản thì chúng kéo vào bờ. Vì vậy, con người dựa vào những đặc điểm trên để đánh bắt mực có hiệu qua và sản lượng cao. Mực chia làm các bộ như: Mực ống, mực nang, mực bánh bao (mực lùn mập), mực không lồ.
Siêu bộ Mười chân, danh pháp khoa học: Decapodiformes, là một siêu bộ trong lớp Chân đầu (Cephalopoda), bao gom tat cả các loài mực với 10 chi; tên goi cua nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lap va có nghĩa là mười chân. Mười chi của chúng được chia ra thành 8 tay và 2 xúc tu. Người ta giả định rang Coleoidea t6 tiên có 5 cặp chỉ giống nhau và một nhánh đã tiến hóa để biến đối cặp tay thứ IV và trở thành các loài của siêu bộ Decapodiformes. Một nhánh khác cũng tiễn hóa và cuối cùng mat đi cặp tay thứ II, trở thành các loài của siêu bộ Octopodiformes.
Siêu bộ Decapodiformes bao gồm các bộ sau: - _ Bộ Spirulida: Mực ống sừng cừu - Bộ Sepiida: Mực nang - Bộ Sepiolida: Mực ỗng đuôi cụt, mực ống lùn - Bộ Teuthida: Mực ỗng Mực ống là tên thường gọi của các thành viên thuộc Bộ Mực ống (danh pháp khoa học: Teuthida), bao gm 304 loài. Giống như các loai thân mềm khác, mực ống có phan thân va dau rõ rang, cơ thé đối xứng hai bên, một lớp áo và có nhiều “xúc tu”. Tương tự như mực nang, mực ống có tám xúc tu sắp xếp theo cặp và hai xúc tu dài hơn cả. Mực ống là loài bơi khỏe, một số loài còn có khả năng phi ra khỏi mặt nước một khoảng cách ngắn.
Mực ống có chứa hợp chất mực màu đen trong cơ thể, khi gặp nguy hiểm, mực phun ra tạo man đen dày đặc, qua đó lẫn trốn khỏi nguy cơ đe dọa. Mực ống thuộc lớp Cephalopoda, phân lớp Coleoidea, bộ Teuthida. Phân bộ Teuthida gồm hai phân bộ chính là Myopsina và Oegopsina (bao gồm mực không 16 như Architeuthis dux). Bộ mực ống Teuthida là bộ lớn nhất với hơn 300 loài được phân vào 29 họ.
Teuthida là thành viên của siêu bộ Decapodiformes (tiéng Hy Lạp: “mười chân”). Hai bộ khác thuộc siêu họ Decapodiformes cũng được gọi là mực, mặc dù theo thang phân loại chúng nằm khá xa bộ Teuthida và cau trúc giải phẫu tong kết cũng khác biệt. Chúng là mực đuôi cụt thuộc bộ Sepiolida và mực ống sừng cừu, loài duy nhất thuộc bộ Spirulida. Loài mực ma cà rồng lại giống bạch tuộc hơn là mực.
Phân loại khoa học của mực ống Phân loại khoa học Giới (regnum) Animalia Ngành (phylum) Mollusca Lớp (class) Cephalopoda Phân lớp (subclass) Coleoidea Liên bộ (superordo) Peeapodjermes (không phân hang) eocoleoidea Bộ (ordo) Teuthida (Theo FAO — Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc) b. Cấu tạo mực ống Phần thân mực được bao phủ bởi lớp áo mực, với một vây bơi mỗi bên. Không giống các loài sinh vật biển khác, ở hầu hết các loài mực, vây bơi không phải là co quan vận động chính. Da mực chứa nhéu sắc tố có khả năng thay đổi màu sắc theo môi trường xung quanh, khiến nó gan như vô hình.
Mau sắc phan mặt dưới luôn nhạt màu hơn mặt trên, giúp mực ngụy trang, đánh lừa cả kẻ thù lân con môi. Bên dưới thân mình là khoang áo, chứa mang, các cơ quan bài tiết và sinh sản. Đối diện khoang áo là ống phéu, giúp mực di chuyển bang cách đây nước ra khỏi cơ thé. Ở hình thức vận động này, nước được hút vào khoang áo và được đây ra qua ống phéu tao ra dòng nước phản lực nhanh và mạnh.
Hướng của ống phéu có thé được thay đôi phù hợp với hướng di chuyển. Dưới khoang áo, ngoài ống phéu là các nội quan, được bao phủ bởi một lớp biểu bì mỏng. Dưới đó là các nội quan lớn của mực. rãnh miệng xúc tu dài :.
NS Y e A miệng ống TU ta, quagyagauyyyauK dau sun Ong | Panera bộ xúc tu sụn thân ỶỲ thân | chiều sắc tổ dài thân Hình 1. Cấu tạo mực ống Thành phần khối lượng của mực ống Thanh phan khối lượng của nguyên liệu mực là tỉ lệ phan trăm vẻ khối lượng của từng bộ phận hoặc từng cơ quan trong cơ thể nguyên liệu. Sự phân chia này dựa vào hình thái học của nguyên liệu cũng như phân ăn được của chúng trong công nghệ chế biến. Thành phân khối lượng của mực phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống loài, độ thành thục sinh lý, ngư trường khai thác.
Thành phần khối lượng mực Thành phần Phần trăm khối lượng (%) Thân mực 51.6 Gan mực 24-64 Nang mực 0.5 Phan con lai 118-151 c. Loài mực ong tại Việt Nam Cũng như mực nang, ở vùng biên phía Bac, mực ông tập trung ở các vùng đánh bắt mực chính là quanh dao Cát Bà, Cái Chiên, Cô Tô, Hòn Mê - Hon Mat và khu vực Bạch Long Vĩ, nhât là vào mùa xuân. Ở vùng biên phía nam, các vùng tập trung mực chủ yếu là ở Phan Rang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Cà Mau và quanh Côn Đảo, Phú Quốc. Phê pham của quá trình sản xuat mực Trong quá trình chê biên mực, một sô phê phâm có thê kê đên như nội tạng, dau, nang mực, vây, da, mực.
và lượng phế phẩm đó có thé lên đến 24% tong khói lượng mực nguyên liệu. Một số ứng dụng của các loại phế liệu mực /7j Nguyên liệu Sản phẩm Gan mực Tinh thé lỏng, mỗi câu cá, Omega — 3 (EPA, DHA), thức ăn cho cá hoặc vật nudi Mực Thuốc nhuộm, thực phẩm tốt cho sức khoẻ, vật liệu chồng ung thu Da mực Thuốc nhuộm, colagen, một số sản pham mỹ phẩm Nang mực Chitin, sợi thiên nhiên Nội tạng Chất điều vị trong quá trình lên men sản xuất nước mắm, sản xuất một số đa chất nhất EPA, DHA và acid béo không bão hoà khác, áp dụng trong quá trình sản xuất lecithin và enzyme. Đuôi mực (tai mực) Nguyên liệu thô cho một số sản phẩm ướp gia vị hoặc chê biến.