Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE THONG ĐIỆP VE E-LEARNING TREN BAO ĐIỆN TU VIỆT NAM 1. Khái niệm liên quan đến dé tai 1. Thông điệp Thông điệp theo nhiều nguồn nghiên cứu khác lại có cách hiểu khác như: Thông điệp là nội dung được thé thức dưới dạng văn bản hoặc hành động của chủ thể, chứa đựng nội dung có ý nghĩa hướng vào đối tượng cụ thê với mong muốn đối tượng hiểu được điều đó; hoặc thông điệp là điều quan trọng muốn gửi gắm thông qua một hình thức hoạt động, một việc làm mang tính biểu trưng nào đó, có thể là một báo cáo, một hình ảnh, cử chỉ, hành động,. Thông điệp gồm có nội dung của thông điệp và hình thức của thông điệp.
Nội dung là điều mà người ta muốn nói. Nó có các mức độ khác nhau như: Có những thông điệp cung cấp thông tin, có thông điệp cung cấp cảm xúc, có những thông điệp khuyến khích hành vi, nhận thức; có những thông điệp trao cho người nhận tri thức,. Có nhiều cách hiểu về khái niệm thông điệp: “Message” trong tiếng Anh và tiếng Pháp được dùng để chỉ “thông điệp”. Nó cũng có thé hiểu là lời phán truyền, truyền dat, truyền thông.
Theo từ điển tiếng Việt thì “Thông điệp” có nghĩa là “điều quan trọng muốn gửi gắm thông qua một hình thức hoạt động, một việc làm mang tính biểu trưng nào đó” [50, tr. Trong tiếng Trung chữ “thông điệp” (Tongdie) cũng mang nội dung tương tự. Trong hoạt động báo chí truyền thông, Thông điệp là công cụ chủ yếu để nhà báo thực hiện mục đích của mình. Thông điệp trở thành cầu nối giữa báo chí và công chúng.
Thông điệp đa dạng từ nội dung đến cách sử dụng. Trong bất cứ tác phẩm báo chí nào cũng đều chứa đựng thông điệp. Nó không 16 chỉ biểu hiện trong nội dung mà còn ở cách trình bày như hình ảnh, cỡ chữ.Thông điệp không tồn tại và có sẵn mà chúng được các nhà báo kiến tạo từ cuộc sống thường ngày. Ngày nay, thuật ngữ “thông điệp” được sử dụng như một khái nệm then chốt trong khoa học báo chí - truyền thông.
Giáo trình “Co sở lý luận báo chí truyền thông” của Tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang có viết: “Thông điệp là tin tức được thé hiện bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc bằng bat cứ tín hiệu nào mà người ta có thé hiểu được và được trình bày một cách có ý nghĩa. Điều quan trọng là thông điệp phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ mà người cung cấp va người tiếp nhận hiểu được. Có thé là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, ngôn ngữ kỹ thuật trong khoa học, hay ngôn ngữ văn học trong nghệ thuật” [27, tr. Trong cuốn “Giáo trình cơ sở lý luận báo chí”, tác giả Nguyễn Văn Hà cho biết: Thông điệp là nội dung thông tin, tin tức được đưa ra trao đổi.
Đó là những tín hiệu, mã SỐ, ký hiệu được thể hiện băng mực trên giấy, sóng trên không trung. Thông điệp phải được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ quy ước, mang tính cộng đồng, khiến người gửi và người nhận có thé hiểu nhau [17] (theo_mô hình truyền thông của Wilbur Schramm đưa ra năm1982). Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Van Dững và Đỗ Thị Thu Hang có thể chia thông điệp thành 4 loại như sau: (1) Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới; (2) thông điệp cụ thê (thông điệp bộ phận) là loại thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông; (3) thông điệp tài liệu là loại thông điệp ấn chứa trong các tài liệu, dữ liệu. Loại thông điệp này dễ nhận biết vì nó biểu hiện cụ thể, có thể nhìn thay bằng trực quan; (4) thông điệp ân là loại thông điệp mà nhận biết nó cần 17 phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng hoá, cảm nhận tinh tế, có sự liên tưởng sâu xa.
Thông điệp khi được sáng tạo xong, qua phương tiện truyền thông sẽ xâm nhập vào công chúng lần lượt theo các bước: tiếp nhận thông điệp => nhận biết nội dung của thông điệp => chấp nhận thông điệp => tin tưởng thông điệp => quyết tâm hành động, thay đôi hành vi cá nhân => kêu gọi, vận động người khác cùng thực hiện, cùng thay đổi hành vi. Trong quá trình truyền thông, vai trò của thông điệp đặc biệt quan trọng. Bởi quá trình truyền thông là sự truyền đi của các thông điệp (ý nghĩa, thông tin, tư tưởng, ý tưởng, kiến thức,.) từ một người hay nhóm người đến người khác hoặc nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản,. Trong quá trình này, cần lưu ý đến các công việc của người cung cấp, khởi xướng là mã hóa thông điệp bằng tín hiệu của mình và người tiếp nhận muốn nhận được thông điệp phải có quá trình giải mã.
Thông điệp trong truyền thông phải qua các bước mã hóa, truyền đi, tiếp nhận, giải mã. Mỗi thông điệp chuyền từ người khởi xướng đến người tiếp nhận thường giảm độ chính xác và cường độ, nên phải tìm cách tăng thêm sức mạnh cho thông điệp. Thông điệp được người tiếp nhận nghiên cứu và chỉ biết được sức mạnh, hiệu quả của nó khi người tiếp nhận có thông tin phản hồi. Về cơ bản, cấu trúc thông điệp có 2 lớp: Lớp bên ngoài và lớp bên trong.
Ở hình thức thể hiện, thông điệp bao gồm: Lời nói, hình ảnh, cỡ chữ, kí tự. tức là những tín hiệu học mà chúng ta nhìn thấy bằng mắt, nghe thấy được bằng tai. Còn phương thức truyền tải chính là các phương tiện như: báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử. Vào những năm 60 của thế kỷ XX, GS.
Herbert Marshall McLuhan (Canada) nổi tiếng về lý thuyết truyền thông đã đưa ra biểu thức: Phương tiện truyền thông là thông điệp. Với tuyên bố này, ông nhấn mạnh, các kênh khác 18 nhau, không chỉ về mặt nội dung, ma còn liên quan đến cách truyền tải, đánh thức và làm thay đổi suy nghĩ và giác quan của chúng. Lớp bên trong chính là nội dung thông tin mà đối tượng tiếp nhận có thê đọc hiểu và thay đổi trong ý thức, hành vi. Bản chất nội dung luôn bị chi phối bởi tính mục đích của chủ thể sáng tạo ra tức là sẽ có động cơ hoặc ý định sâu xa của tác giả.
Đề thực hiện quá trình truyền thông hiệu quả, nhà truyền thông phải trải qua một quy trình gồm 5 bước: dau ve thong va danh gia, công chuân bị phản hôi chúng tài liệu Chu trình truyền thông hiệu quả diễn ra trong một vòng tròn khép kín, trong đó một thông tin phát ra luôn có một phản ứng nào đó từ phía người nhận. Có thé hiểu rõ hơn về chu trình này qua mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon — Mô hình phô biến hiện nay.1 — Mô hình truyền thông của Claude Shannon (Nhiều) (Noise) Phản hồi (feedback) S (Source): Nguồn phát, chủ thể truyền thông. 19 M (Message): Thông điệp, nội dung truyền thông, có thé băng tín hiệu, kí hiệu, mã số, sóng trên không trung, tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người,. được mã hóa theo hệ thống ký hiệu, dễ hiểu.
C (Channel): Kênh truyền thông. R (Receiver): Người/nhóm người/tô chức tiếp nhận thông điệp. E (Effect): Hiệu qua truyền thông, sự thay đổi nhận thức, hành vi, hành động của đối tượng truyền thông trước một tình huống của cuộc sống sau khi có thông điệp. Trong một chu trình truyền thông, phản hồi (Feedback) là yếu tổ quan trọng nhất của quá trình truyền thông.
Vì vậy, thang đo phản hồi là một chỉ báo căn bản cho thấy hiệu quả hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với công chúng báo chí. Như vậy, trong dòng chảy của thông điệp, khâu cuối cùng là cực kỳ quan trọng vì vậy để tạo nên những thông điệp phù hợp và có ích cho cộng đồng, cần tiến hành khâu thử nghiệm đến khâu hoàn thiện và kiểm tra các điều kiện sản xuất thông điệp. Dù việc tạo ra thông điệp với mục đích gì thì nó cũng xuất phát từ lợi ích trước hết của “nguồn”, phóng viên, biên tập viên, của cơ quan báo chí. Thông điệp chính là một yếu tố quan trọng của quá trình truyền thông.
Trước đây, mỗi khi đề cập tới truyền thông, người ta thường nhắc tới công thức nồi tiếng cua Harold D. Lasswell: Ai nói cái gi? Bang kénh nao? Cho ai? Hiéu qua gi? (Who says what in which channel to whom with what effect?). Tuy nhiên, giới hạn của công thức nay là chỉ hình dung quá trình truyền thông 20 như một đường thăng giữa một đầu là người phát tin và đầu kia là người nhận tin. Người nhận tin vô hình chung trở thành đối tượng tiếp nhận một cách thụ động.
Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn khác biệt, công chúng luôn có những cách phản ứng khác nhau đối với thông tin tiếp nhận. Vì thế về sau các nhà nghiên cứu thường quan niệm quá trình truyền thông theo một dạng đường vòng khép kín, bao gồm 4 giai đoạn chính: phát tin (emission), truyền tin (transmission), nhận tin (reception) và phan hổi (feedback). Mô hình truyền thông theo chu ky này quan niệm răng: một thông điệp, sau khi được phát ra, luôn luôn gây ra một phản ứng nào đó về phía người nhận tin và do đó người nhận tin sẽ có một thông điệp phản hồi gửi lại người phát tin ban đầu. Lúc này người nhận tin sẽ trở thành người phát tin - điều này làm cho quá trình truyền thông trở thành một chu kỳ khép kín.
Thông điệp là những thông tin thực sự được chuyên theo một mạch truyền hay kênh khác đến đối tượng. Bản thân thông điệp mang trong mình những mã hóa (encode) - tức là tìm tới một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nào đó đề đạt nội dung thông điệp. Quá trình mã hóa này bao gồm nhiều công đoạn kế tiếp nhau và liên quan rất nhiều đến khía cạnh kỹ thuật và công nghệ. Vì những thông điệp đó được mã hóa nên muốn hiểu chúng, về cơ bản phải giải mã nó.
và bất cứ công cụ nào phát ra thông điệp đó và làm bạn biết đến. Chính vì vậy, mặc dù “thông điệp” là một nhưng cách tiếp nhận và hiểu biết nó lại phụ thuộc vào từng cá nhân giải mã. Mỗi cá nhân do trình độ, sở thích, mục đích. khác nhau nên thông điệp đó cũng có cách tiếp cận và hiểu biết khác nhau.
Ngoài ra, sự khác này còn tùy thuộc vào người cung cấp và nội dung thông điệp.