Luận văn thạc sĩ về thi pháp kịch Việt Nam giai đoạn 1940-1945

Luận văn thạc sĩ văn học nghiên cứu văn học việt nam thi pháp kịch việt nam những năm 1940 1945 qua một số tác giả, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

105
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thi pháp kịch Việt Nam giai đoạn 1940 1945

Giai đoạn 1940-1945 là thời kỳ quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực thi pháp kịch. Thời kỳ này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của kịch Việt Nam, với nhiều tác phẩm nổi bật phản ánh những biến động xã hội và chính trị. Các tác giả đã sử dụng nghệ thuật sân khấu để truyền tải thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người. Nghiên cứu thi pháp kịch trong giai đoạn này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về văn hóa Việt Nam mà còn mở ra những hướng đi mới cho nghiên cứu văn học hiện đại.

1.1. Đặc điểm nổi bật của kịch Việt Nam trong giai đoạn 1940 1945

Kịch Việt Nam trong giai đoạn này có những đặc điểm nổi bật như sự kết hợp giữa kịch nóikịch thơ, cùng với việc khai thác đề tài lịch sử và hiện đại. Các tác phẩm thường mang tính chất phê phán xã hội, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân trong bối cảnh lịch sử đầy biến động.

1.2. Vai trò của các tác giả tiêu biểu trong thi pháp kịch

Nhiều tác giả như Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Hoàng Chương, và Hoàng Cầm đã có những đóng góp quan trọng cho thi pháp kịch. Họ không chỉ sáng tác những vở kịch nổi tiếng mà còn định hình phong cách và xu hướng cho kịch Việt Nam trong giai đoạn này.

II. Những thách thức trong nghiên cứu thi pháp kịch giai đoạn 1940 1945

Nghiên cứu thi pháp kịch trong giai đoạn 1940-1945 gặp nhiều thách thức do thiếu tài liệu và sự phân tán trong các công trình nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu thường gặp khó khăn trong việc xác định các yếu tố nghệ thuật sân khấukịch bản. Hơn nữa, sự ảnh hưởng của các yếu tố chính trị và xã hội cũng làm cho việc phân tích trở nên phức tạp hơn.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp cận tài liệu nghiên cứu

Nhiều tài liệu về kịch Việt Nam trong giai đoạn này chưa được số hóa hoặc lưu trữ một cách có hệ thống, gây khó khăn cho việc nghiên cứu. Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tìm kiếm và tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.

2.2. Ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử đến thi pháp kịch

Bối cảnh lịch sử phức tạp trong giai đoạn 1940-1945 đã ảnh hưởng lớn đến nội dung và hình thức của kịch Việt Nam. Các tác phẩm thường phản ánh sự khủng hoảng và xung đột trong xã hội, điều này làm cho việc phân tích thi pháp trở nên khó khăn hơn.

III. Phương pháp nghiên cứu thi pháp kịch hiệu quả

Để nghiên cứu thi pháp kịch trong giai đoạn 1940-1945, cần áp dụng các phương pháp phân tích văn bản và so sánh. Việc phân tích các yếu tố như nhân vật, kết cấu, và ngôn ngữ trong kịch bản sẽ giúp làm rõ hơn về thi pháp kịch. Ngoài ra, việc so sánh với các tác phẩm khác trong cùng thời kỳ cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn.

3.1. Phân tích văn bản kịch

Phân tích văn bản kịch giúp làm rõ các yếu tố nghệ thuật và nội dung của tác phẩm. Các nhà nghiên cứu cần chú ý đến cách xây dựng nhân vật, tình huống và ngôn ngữ trong kịch bản để hiểu rõ hơn về thi pháp kịch.

3.2. So sánh với các tác phẩm khác

So sánh các tác phẩm kịch trong giai đoạn 1940-1945 với các tác phẩm khác sẽ giúp nhận diện được những đặc điểm riêng biệt và xu hướng phát triển của kịch Việt Nam. Điều này cũng giúp làm nổi bật những đóng góp của các tác giả trong bối cảnh văn học chung.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu thi pháp kịch

Nghiên cứu thi pháp kịch không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và biểu diễn. Việc hiểu rõ về thi pháp kịch sẽ giúp các giảng viên và sinh viên có cái nhìn sâu sắc hơn về văn học Việt Nam. Hơn nữa, các nhà sản xuất sân khấu có thể áp dụng những kiến thức này vào việc dàn dựng các vở kịch, tạo ra những sản phẩm nghệ thuật chất lượng.

4.1. Giá trị trong giảng dạy văn học

Nghiên cứu thi pháp kịch có thể được áp dụng trong giảng dạy văn học, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các yếu tố nghệ thuật và nội dung của kịch. Điều này sẽ nâng cao khả năng phân tích và cảm thụ văn học của sinh viên.

4.2. Ứng dụng trong sản xuất sân khấu

Các nhà sản xuất sân khấu có thể sử dụng những kiến thức về thi pháp kịch để dàn dựng các vở kịch một cách hiệu quả hơn. Việc áp dụng các yếu tố nghệ thuật và nội dung phù hợp sẽ tạo ra những sản phẩm nghệ thuật hấp dẫn và chất lượng.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu thi pháp kịch

Nghiên cứu thi pháp kịch Việt Nam giai đoạn 1940-1945 mở ra nhiều hướng đi mới cho nghiên cứu văn học. Những đóng góp của các tác giả trong giai đoạn này không chỉ làm phong phú thêm cho văn học Việt Nam mà còn tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc tiếp tục nghiên cứu sẽ giúp làm sáng tỏ hơn về thi pháp kịch và vai trò của nó trong văn học hiện đại.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu thi pháp kịch

Nghiên cứu thi pháp kịch giúp làm rõ những đặc điểm và xu hướng phát triển của kịch Việt Nam. Điều này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc giảng dạy và sản xuất sân khấu.

5.2. Hướng đi mới cho nghiên cứu văn học

Nghiên cứu thi pháp kịch mở ra nhiều hướng đi mới cho nghiên cứu văn học, đặc biệt là trong việc khám phá các yếu tố nghệ thuật và nội dung của kịch. Điều này sẽ giúp làm phong phú thêm cho kho tàng văn học Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ văn học việt nam thi pháp kịch việt nam những năm 1940 1945 qua một số tác giả

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, mục lục, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn kịch Việt Nam những năm 1940 - 1945 Chƣơng 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu, không – thời gian trong kịch Việt Nam 1940 – 1945 Chƣơng 3: Thi pháp và các vấn đề tƣ tƣởng kịch Việt Nam 1940 – 1945 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN KỊCH VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1940 - 1945 1. Lí luận chung về kịch 1. Khái niệm về “Kịch” “Kịch” là gì? Khái niệm về kịch đƣợc xác định trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” bộ mới nhƣ sau: “kịch là một trong ba loại hình văn học (bên cạnh tự sự và trữ tình). Kịch vừa thuộc về sân khấu, vừa thuộc về văn học: nó là cơ sở đầu tiên của vở diễn, vừa đƣợc cảm thụ bằng việc đọc”.[3, tr 740] Trong công trình Lý luận văn học, ở phần bàn luận về các loại thể văn học tác giả Lý Hoài Thu đã đƣa ra khái niệm kịch đƣợc xác định ở hai cấp độ: “Ở cấp độ loại hình: Kịch là một loại hình nghệ thuật sân khấu, đồng thời là một trong ba phƣơng thức phản ánh của văn học.

Sự tồn tại của phương thức kịch bên cạnh phƣơng thức tự sự và trữ tình đã phản ánh quy luật tất yếu là văn học nghệ thuật phải tiếp cận và tái tạo hiện thực đời sống một cách toàn diện…Ở cấp độ loại thể, kịch đƣợc sáng tạo bởi nhà văn, là một thể loại gắn với một phƣơng thức phản ánh tồn tạị độc lập – phƣơng thức kịch. Bên cạnh các loại hình nghệ thuật sân khấu khác nhƣ kịch múa (vũ kịch), kịch hát (nhạc kịch), kịch dân ca (ca kịch) và thậm chí cả kịch câm (pantômin), kịch nói (một cách gọi nôm na nhằm phân biệt với múa, hát) là một loại hình sân khấu mang tính đặc thù rõ rệt. Nếu chất liệu để ngƣời nghệ sĩ sáng tạo nên những tác phẩm vũ kịch là ngôn ngữ múa, nhạc kịch là ngôn ngữ âm nhạc… thì chất liệu để nhà viết kịch xây dựng nên tác phẩm kịch nói là ngôn ngữ văn học” [10, tr 260]. Khi xác định khái niệm nhƣ vậy tác giả cũng nhấn mạnh với tƣ cách là một thể loại văn học nằm trong loại hình nghệ thuật kịch thì kịch bản văn học chỉ thực sự đƣợc khai thác trọn vẹn khi đƣợc biểu diễn trên sân khấu.

Đời sống của kịch gồm hai chặng đƣờng sáng tạo khác nhau: sáng tác kịch 13 bản văn học của nhà văn và lao động của những ngƣời nghệ sĩ sân khấu. Nhƣ vậy, kịch vừa thuộc về văn học, vừa thuộc về sân khấu. Các khái niệm trên đã chỉ ra những ý nghĩa nội hàm cơ bản nhất về kịch, song khi đề cập đến kịch chúng ta cần làm rõ vấn đề thực chất kịch là gì? Kịch khác với các thể loại tự sự và trữ tình ra sao? Xét về góc độ ngôn ngữ, kịch khác với trữ tình hay còn gọi thi ca rất rõ, tiếng nói của thơ ca là tiếng nói độc thoại, tiếng nói của con tim còn kịch chỉ có lời đối thoại, lời của nhân vật. Thể loại tự sự đa dạng hơn kịch, bên cạnh lời của nhân vật còn có lời ngƣời kể chuyện cùng tham gia vào quá trình dẫn dắt, miêu tả sự kiện.

Xét về nội dung, trữ tình thể hiện rõ nhất ở thơ trữ tình, đó là tiếng nói của cảm xúc, tâm trạng, suy tƣ. Thơ ca là thế giới các cung bậc cảm xúc, biểu hiện cho thế giới nội tâm, tâm hồn phong phú của con ngƣời. Kịch và trần thuật có điểm giống nhau là biểu hiện đời sống bằng những hành động, xung đột. Nhƣng trong kịch hành động và xung đột tập trung cao hơn, hành động kịch giàu kịch tính và xung đột gay gắt, dữ dội.

Ở trần thuật sự kiện, hành động thƣờng đƣợc mô tả, lí giải bằng các chi tiết cụ thể, những xung đột đƣợc tạo nên ở sự dẫn dắt câu chuyện còn trong kịch tất cả những vấn đề của cuộc sống con ngƣời: sự đời, tình ngƣời, những câu chuyện giản dị hay li kỳ rắc rối, những cảnh tƣợng êm đềm hay dữ dội, tính cách từ một chiều giản đơn đến đa dạng phức tạp… đƣợc thực hiện qua các dòng đối thoại của nhaan vật trong vở kịch. Các nhân vật liên tiếp, liên tiếp đối thoại với nhau và thực hiện những hành động. Ngƣời đọc kịch bản phải chú ý tới hành động và ngôn ngữ của nhân vật mới có thể hiểu đƣợc tâm lý, tính cách, ý nghĩ, suy tƣ hay tâm trạng, cảm xúc của nhân vật. Do trong kịch không hề có sự miêu tả cụ thể, tỉ mỉ về hành động.Gorki từng nói: “Kịch là hình thức văn học khó nhất bởi vì, nhƣ vừa trình bày ở trên, trong kịch tất cả đều phải đƣợc và chỉ đƣợc thể hiện bằng ngôn ngữ đối thoại thôi, mà điều đó thì ngay cả những nhà văn lão luyện đôi 14 khi cũng không phải là dễ thực hiện” [12, tr 132].

Nếu đọc thơ ta nắm bắt đƣợc thế giới nội tâm cảm xúc qua ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, tứ thơ hoặc có khi từ hoàn cảnh sáng tác bài thơ mà thấy đƣợc nội dung, ý nghĩa thì ở tác phẩm tự sự hệ thống hình tƣợng nhân vật và một chuỗi sự việc trong cốt truyện thể hiện tƣ tƣởng của nhà văn. Với kịch, mọi thông điệp, tình cảm của tác giả chia sẻ với ngƣời đọc đƣợc thực hiện qua cách xây dựng nhân vật, tạo tình huống xung đột và cách lí giải mâu thuẫn xung đột. Nhƣ vậy kịch là một thể loại văn học phân biệt với các thể loại khác: tự sự và trữ tình. Khi đọc một văn bản kịch nghĩa là ta đang đọc một tác phẩm văn học mà phƣơng thức biểu hiện của nó là ngôn ngữ đối thoại.

Có thể khẳng định đối thoại là đặc trƣng cơ bản, đặc trƣng số một của kịch. Những đặc trưng cơ bản kịch 1. Nhân vật kịch Nhân vật kịch chủ yếu đƣợc khắc họa bằng hành động. Qua hành động nhân vật bộc lộ tính cách của mình.

Tác giả Lý Hoài Thu trong cuốn Lý luận văn học đã khẳng định: “thế giới nhân vật kịch là thế giới con ngƣời khát khao hành động, cảm hóa, thuyết phục mang lại nhận thức cho độc giả, khán giả bằng hành động.”[10, tr 272] Do đặc trƣng thể loại, nhân vật kịch không đƣợc khắc họa tỉ mỉ nhƣ các nhân vật trong tác phẩm tự sự dài, ngƣời viết kịch cũng không dùng lời kể để miêu tả tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật mà chỉ qua đối thoại và hành động, tƣ tƣởng, tình cảm, suy nghĩ của nhân vật đƣợc thể hiện. Ở kịch nhân vật có đƣợc sự tập trung về một nét chủ đạo nào đó trong tính cách nên hình tƣợng nhân vật hiện lên có đƣờng nét, sắc màu nổi bật hơn. Nhân vật trong kịch thƣờng chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm. Các thể loại văn học khác cũng thƣờng có nội tâm nhân vật song ở kịch do hƣớng đến của kịch khi phản ánh đời sống là những mâu thuẫn xung đột, cho 15 nên nhân vật trong kịch có nhu cầu đấu tranh với nội tâm bản thân mình.

Các nhân vật nổi tiếng xƣa nay nhƣ Prômêtê, Ơ đíp, Ăngtigôn, Mêđê trong bi kịch cổ Hi Lạp, những Hamlet, Ôtenlô, Rômeô, Giuliét, vua Lia của Shếxpia là những nhân vật đấu tranh nội tâm diễn ra mạnh mẽ. Hành động và cốt truyện kịch Trong đời sống con ngƣời “Kịch là một thể loại mang lại sự nhận thức thực tại thông qua yếu tố hành động” [10, tr 268]. Tất cả đời sống tinh thần của con ngƣời chỉ có thể biểu hiện qua hành động của nhân vật nhƣ: tƣ tƣởng, tình cảm, tâm tƣ, suy nghĩ, ƣớc mơ, lý tƣởng…Từ hơn hai nghìn năm trƣớc Aristole là ngƣời đầu tiên nêu ra hành động là đặc trƣng của kịch. Vậy hành động là gì? Tại sao hành động kịch lại có vai trò quan trọng nhƣ vậy đối với kịch? Theo Hồ Ngọc trình bày trong cuốn “Nghệ thuật viết kịch”, trƣớc tiên hành động là hình thức hoạt động của con ngƣời trong các mối quan hệ với xã hội, với thiên nhiên để nhằm đạt tới một mục đích gì, một kết quả gì.

Tức là cần chú ý tới tính chất có mục đích của hành động để phân biệt hành động với những hoạt động có tính chất thuần túy (cử chỉ, động tác, lời nói) của con ngƣời. Đó là cách hiểu hành động theo hƣớng khái quát. Trong quan niệm về hành động, tác giả còn lƣu ý tới tính chất hữu cơ và hoàn chỉnh của hành động, có liên quan chặt chẽ tới tính chất sân khấu của kịch. Bởi một vở kịch không thể nào kéo dài hay mở rộng diện miêu tả nhƣ tiểu thuyết, ngƣời đi dự một tối kịch không thể xem nửa chừng ra về rồi hôm sau xem tiếp.

Cho nên nội dung kịch không đƣợc phép dài dòng mà cần phải cô đọng, hàm súc, chặt chẽ. Cốt truyện là nhằm triển khai xung đột trong kịch nên phải tập trung, không thừa, không thiếu. Cốt truyện và hành động trong kịch cũng cần phải thống nhất tập trung, đòi hỏi chi tiết, tình tiết, sự kiện bên cạnh sự ngắn gọn còn phải liên đới nhau một cách chặt chẽ, logic, tất yếu, tự nhiên. Cốt truyện 16 đƣợc dẫn dắt theo quy luật nhân quả.

Tất cả những sự việc, chi tiết có liên quan đến các hành động chủ yếu của vở kịch đều có mối quan hệ nguyên nhân – kết quả của nhau, cùng nƣơng dựa vào nhau, cái này phát triển thông qua cái khác. Một cốt truyện kịch chặt chẽ là khi vở kịch có các sự kiện, biến cố liên quan tới hành động cùng hƣớng về một chủ đề đã định, tất cả hành động cốt yếu thống nhất trong chủ đề đó. Những mối liên hệ phải thật chặt chẽ nhƣng cũng không có nghĩa là quá tất yếu, hiển nhiên, tuần tự, đều đều, dễ làm ngấy khán giả. Khi nhân vật xuất hiện, bao giờ cũng dự báo về điều bất thƣờng sắp xảy ra.

Nên trong kịch rất cần những chỗ ngoặt hợp lí gây bất ngờ, tạo hứng thú cho ngƣời xem kịch. Tác giả công trình Lí luận văn học của trƣờng Đại học sƣ phạm cũng nhấn mạnh về yếu tố này nhƣ sau “Trong kịch nhất thiết phải có những chỗ ngoặt, những đoạn đột biến, những bƣớc nhảy vọt bất ngờ gây hứng thú với ngƣời xem. Ở phƣơng Tây từ lâu đã có lí thuyết 3S (Supense: làm cho ngƣời ta hoài nghi; Surprise: làm cho ngƣời ta ngạc nhiên; Satisfaction: làm cho ngƣời ta thỏa mãn)” [19, tr 405].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ