Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Mai Hương, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt và TS Cao Văn Bản, tập trung nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư thuộc các Tổng công ty xây dựng trong điều kiện phân cấp quản lý đầu tư hiện nay". Đây là luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế đầu tư, tiếp cận theo hướng hỗn hợp giữa phân tích lý luận định tính và mô tả định lượng dựa trên số liệu thống kê thu thập từ thực tiễn doanh nghiệp.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tác giả xác định bối cảnh xuất phát từ hai yếu tố cấu trúc có tính song hành: (1) Quá trình phân cấp quản lý đầu tư ngày càng mạnh tại Việt Nam, đặc biệt sau khi ban hành Luật Xây dựng (2003), Luật Đầu tư (2005) và Luật Doanh nghiệp (2005), trao cho doanh nghiệp quyền tự tổ chức thẩm định và quyết định đầu tư đối với các dự án sử dụng vốn tự có và vốn huy động hợp pháp; (2) Quá trình chuyển đổi mô hình hoạt động của các Tổng công ty Nhà nước theo Quyết định số 90, 91/TTg ngày 7 tháng 3 năm 1994, từ vai trò nhà thầu sang vai trò chủ đầu tư, kéo theo trách nhiệm tự chủ toàn diện trong huy động vốn, quyết định đầu tư và bảo toàn vốn doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, công tác thẩm định dự án đầu tư tại các Tổng công ty xây dựng (TCTXD) bộc lộ những hạn chế cụ thể: nhận thức về vai trò của thẩm định chưa đầy đủ, sự phối hợp giữa các bộ phận chưa hiệu quả, trình độ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, lượng thông tin phục vụ phân tích chưa đủ và thiếu độ tin cậy. Những hạn chế này dẫn đến các quyết định đầu tư sai lầm, không xuất phát từ nhu cầu thị trường.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định ba mục tiêu:
- Nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về thẩm định dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư ở Tổng công ty xây dựng trong điều kiện phân cấp quản lý đầu tư, làm cơ sở định hướng tiếp cận cho các chương sau.
- Đánh giá thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư thuộc các Tổng công ty xây dựng trực thuộc Bộ Xây dựng ở Việt Nam, phân tích những tồn tại và nguyên nhân.
- Xây dựng hệ thống quan điểm và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trong điều kiện phân cấp quản lý đầu tư và chuyển đổi mô hình hoạt động.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Công tác thẩm định dự án đầu tư của các Tổng công ty xây dựng.
- Phạm vi không gian: Các Tổng công ty xây dựng trực thuộc Bộ Xây dựng ở Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2001–2005.
- Phạm vi loại dự án: Các dự án sử dụng vốn tự có và vốn huy động hợp pháp của doanh nghiệp, không bao gồm vốn ngân sách nhà nước.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả điểm lại các công trình nghiên cứu liên quan theo hai nhóm.
Các nghiên cứu nước ngoài
Xu hướng chủ đạo của các nghiên cứu nước ngoài là tập trung vào kỹ thuật phân tích dự án, đặc biệt phân tích chi phí – lợi ích:
- Mirrlees trong "Hướng dẫn phân tích dự án trong các nước đang phát triển" (1968) đề cập kỹ thuật phân tích dự án và vấn đề giá bóng (shadow price) trong đánh giá hàng hoá và dịch vụ.
- Curry Steve & John Weiss trong "Phân tích dự án trong các nước đang phát triển" (1993) xem xét kỹ thuật phân tích chi phí và lợi ích theo quan điểm ước lượng và so sánh ảnh hưởng lợi ích của đầu tư với chi phí.
- Hassan Hakimian & Erhun Kula (Đại học Tổng hợp London) trong "Đầu tư và thẩm định dự án" (1996) coi thẩm định dự án là kỹ thuật phân tích đánh giá, trong đó phân tích lợi ích – chi phí được xem xét trên cả hai quan điểm tư nhân và nhà nước, với trọng tâm là lĩnh vực công cộng.
- Lumby Stephen trong "Thẩm định đầu tư và các quyết định tài chính" (1994) tập trung vào các phương pháp thẩm định truyền thống: phương pháp hoàn vốn, phương pháp tính lợi nhuận trên vốn, cách tiếp cận dòng tiền chiết khấu.
Điểm chung của nhóm nghiên cứu nước ngoài là ít đề cập đến các phương diện phi kỹ thuật của thẩm định: tổ chức thẩm định, yêu cầu đội ngũ cán bộ, thời gian và chi phí thẩm định.
Các nghiên cứu trong nước
- Vũ Công Tuấn trong "Thẩm định dự án đầu tư" (1998) tập trung vào kỹ thuật phân tích, đánh giá dự án và các văn bản pháp luật liên quan.
- Nguyễn Hồng Minh trong "Phương hướng và những biện pháp chủ yếu nhằm đổi mới công tác lập và thẩm định dự án đầu tư trong ngành công nghiệp đồ uống của Việt Nam" (2003) xem xét thẩm định dự án ở tầm vĩ mô trong ngành công nghiệp chế biến.
- Lưu Thị Hương trong "Thẩm định tài chính dự án" (2004) tập trung vào nội dung thẩm định tài chính: dự toán vốn đầu tư, các chỉ tiêu thẩm định tài chính, phân tích rủi ro. Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ xem xét thẩm định tài chính trong các ngân hàng thương mại, chú trọng đến kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả xác định điểm khác biệt căn bản của luận án so với các công trình trước là xem xét toàn diện công tác thẩm định dự án ở tầm vi mô – doanh nghiệp xây dựng với vai trò chủ đầu tư. Phạm vi nghiên cứu không chỉ dừng ở kỹ thuật phân tích mà còn bao gồm: căn cứ thẩm định, quy trình thẩm định, đội ngũ cán bộ thẩm định, phương pháp thẩm định, và vấn đề phân cấp thẩm định trong nội bộ Tổng công ty.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khái niệm thẩm định dự án đầu tư theo cách tiếp cận tổng hợp: "Thẩm định dự án đầu tư là quá trình xem xét, phân tích, đánh giá dự án một cách khách quan, khoa học và toàn diện trên các nội dung, lựa chọn dự án để quyết định đầu tư." Định nghĩa này được xây dựng dựa trên sự đối chiếu với định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB): thẩm định là quá trình một cơ quan chức năng xem xét một dự án có đạt được mục tiêu kinh tế và xã hội đã đề ra và đạt một cách có hiệu quả hay không.
Khung phân tích được tổ chức theo hai chiều:
- Chiều cấp độ quản lý: phân biệt thẩm định ở cấp Nhà nước (quan điểm kinh tế – xã hội, phân tích kinh tế quốc gia, sử dụng chỉ tiêu NVA – giá trị gia tăng thuần) và thẩm định ở cấp doanh nghiệp (quan điểm chủ đầu tư, chú trọng phân tích tài chính).
- Chiều nội dung thẩm định: năm nhóm yếu tố gồm pháp lý, công nghệ – kỹ thuật, kinh tế – tài chính, tổ chức thực hiện quản lý dự án, và hiệu quả đầu tư.
Lý thuyết phân cấp quản lý đầu tư (investment management decentralization) được vận dụng để làm rõ cơ sở cần thiết, các nguyên tắc và nội dung phân cấp thẩm định dự án. Năm nguyên tắc phân cấp thẩm định được tác giả đề xuất gồm: (1) đảm bảo thống nhất với phân cấp quản lý đầu tư; (2) gắn trách nhiệm với kết quả công việc; (3) minh bạch, rõ ràng nhưng tạo tự chủ; (4) cấp quyết định phải đủ năng lực điều hành; (5) hướng tới tiết kiệm, hiệu quả, công bằng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét quá trình hình thành và phát triển của các TCTXD trong từng thời kỳ.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đánh giá thực trạng và rút ra những tồn tại.
- Phương pháp thống kê kết hợp khảo sát thực tế để thu thập và xử lý số liệu về hoạt động đầu tư của các TCTXD giai đoạn 2001–2005.
- Vận dụng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng.
Nguồn dữ liệu
Dữ liệu được thu thập từ: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Vụ Kế hoạch – Thống kê (Bộ Xây dựng), các Phòng Đầu tư và Thẩm định của các Tổng công ty xây dựng, các cán bộ thẩm định trực tiếp. Đây là nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp kết hợp, phản ánh hoạt động đầu tư và thẩm định dự án của các TCTXD trực thuộc Bộ Xây dựng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thẩm định dự án đầu tư ở Tổng công ty xây dựng trong điều kiện phân cấp quản lý đầu tư
Chương 1 xây dựng khung lý luận toàn diện cho luận án, tổ chức theo hai mảng lớn.
Mảng thứ nhất bàn về phân cấp quản lý đầu tư và phân cấp thẩm định dự án đầu tư. Tác giả lập luận rằng trong nền kinh tế thị trường, phân cấp là yêu cầu khách quan nhằm tránh tập trung quyền hạn, giảm tải cho cấp trên, tạo quyền chủ động cho cấp dưới. Nhà nước chỉ tham gia trực tiếp với các dự án sử dụng vốn ngân sách hoặc dự án quan trọng quốc gia; với nguồn vốn doanh nghiệp, Nhà nước chỉ quản lý về chủ trương và quy mô, doanh nghiệp tự thẩm định, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm. Chương này trình bày Bảng 1.1 (chức năng quản lý và mục tiêu thẩm định theo cấp độ) và Bảng 1.2 (yêu cầu thẩm định theo từng cấp độ quản lý), phân biệt rõ giữa cấp Nhà nước và cấp doanh nghiệp (chủ đầu tư và tổ chức tư vấn) trên ba phương diện: tổ chức thực hiện, nội dung và phương pháp thẩm định.
Mảng thứ hai đặc tả thẩm định dự án đầu tư ở TCTXD. Tác giả xác định đặc điểm hoạt động đầu tư của TCTXD (Bảng 1.3): vốn huy động từ nhiều nguồn, có lực lượng tự làm, có lực lượng chuyên gia tư vấn trong hoạt động, sản phẩm là công trình xây dựng đòi hỏi nhiều lực lượng tham gia tạo dựng. Các dự án của TCTXD tập trung vào hai loại: dự án đầu tư sản xuất kinh doanh và đầu tư bất động sản, đều có mục tiêu lợi nhuận và khả năng thu hồi vốn. Chương cũng xác định năm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định (Sơ đồ 1.3): căn cứ thẩm định, đội ngũ cán bộ thẩm định, tổ chức công tác thẩm định, phương tiện thẩm định, thời gian và chi phí thẩm định. Sáu điều kiện để thẩm định có chất lượng được đề xuất, trong đó có yêu cầu cán bộ thẩm định phải có thời gian công tác tối thiểu 5 năm trong lĩnh vực quản lý đầu tư và xây dựng. Bảng 1.4 tổng hợp các kịch bản về nguyên nhân chủ quan từ công tác thẩm định và biện pháp khắc phục.
Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư của các Tổng công ty xây dựng trực thuộc Bộ Xây dựng ở Việt Nam trong điều kiện phân cấp quản lý đầu tư
Chương 2 phân tích thực trạng trên cơ sở số liệu giai đoạn 2001–2005.
Phần đầu trình bày tổng quan về các TCTXD trực thuộc Bộ Xây dựng (Bảng 2.1 – số lượng TCTXD). Bảng 2.2 và Bảng 2.3 phản ánh quá trình cổ phần hoá: số lượng các đơn vị trực thuộc Bộ Xây dựng tiến hành cổ phần hoá và kết quả đạt được giai đoạn 2001–2005. Bảng 2.4 thể hiện vốn đầu tư thực hiện của các TCTXD trực thuộc Bộ Xây dựng giai đoạn 2001–2005, Biểu đồ 2.1 minh hoạ tốc độ tăng trưởng định gốc vốn đầu tư thực hiện trong cùng giai đoạn. Bảng 2.5 phân tích vốn đầu tư phát triển phân theo lĩnh vực (ngoài vốn ngân sách nhà nước), Bảng 2.6 tổng hợp các dự án đầu tư.
Phần trọng tâm phân tích thực trạng công tác thẩm định theo bốn phương diện. Về tổ chức thẩm định, Sơ đồ 2.1 trình bày quy trình tổ chức thẩm định dự án đầu tư ở TCTXD; Sơ đồ 2.2 và Sơ đồ 2.3 so sánh phân cấp quản lý đầu tư ở TCTXD trước và sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động. Bảng 2.7 tổng hợp nội dung thẩm định dự án đầu tư ở TCTXD phân theo nhóm yếu tố.
Phần đánh giá tổng quát nêu rõ những tồn tại cụ thể. Bảng 2.8 thống kê các dự án được triển khai theo lĩnh vực. Bảng 2.9 liệt kê các dự án đầu tư không hiệu quả theo lĩnh vực ở các TCTXD trực thuộc Bộ Xây dựng giai đoạn 2001–2005. Bảng 2.10 thể hiện số dự án phải điều chỉnh của các TCTXD trực thuộc Bộ Xây dựng năm 2005.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư thuộc các Tổng công ty xây dựng ở Việt Nam trong điều kiện phân cấp quản lý đầu tư
Chương 3 đề xuất giải pháp dựa trên ba căn cứ: xu hướng phát triển của TCTXD, hệ thống quan điểm hoàn thiện, và thực trạng đã phân tích ở Chương 2.
Phần đầu phác thảo xu hướng phát triển của TCTXD: chuyển đổi theo mô hình tập đoàn kinh tế xây dựng, công ty mẹ – công ty con, công ty cổ phần. Xu hướng này được xác định là tất yếu khách quan phù hợp với vận động của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Hệ thống quan điểm hoàn thiện bao gồm các quan điểm định hướng làm cơ sở để xây dựng giải pháp. Các giải pháp cụ thể tại trang 147 hướng đến bốn mảng: hoàn thiện về nhận thức, hoàn thiện tổ chức thẩm định (Sơ đồ 3.1 – cải tiến quy trình tổ chức thẩm định dự án đầu tư ở TCTXD), hoàn thiện nội dung thẩm định, và hoàn thiện phương pháp thẩm định dự án đầu tư.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự nêu những điểm mới theo ba phương diện.
Về cơ sở khoa học:
- Hệ thống hoá và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thẩm định dự án đầu tư, thẩm định dự án ở TCTXD, phân cấp quản lý đầu tư và phân cấp thẩm định trong nền kinh tế thị trường.
- Xây dựng khái niệm khoa học về "thẩm định dự án đầu tư để ra quyết định đầu tư" trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng phạm vi so với các định nghĩa trước đây chỉ xem xét một chủ thể hoặc một nguồn vốn cụ thể.
- Đưa ra các đặc điểm của công tác thẩm định dự án ở TCTXD, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng, các điều kiện để thẩm định có chất lượng.
- Xây dựng các kịch bản về hậu quả đối với dự án do ảnh hưởng của công tác thẩm định (Bảng 1.4), làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện.
Về cơ sở thực tiễn:
- Đánh giá tổng quan các TCTXD trực thuộc Bộ Xây dựng trong quá trình hình thành và phát triển, làm rõ những thay đổi cơ bản trong phân cấp quản lý đầu tư trước và sau chuyển đổi mô hình hoạt động.
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác thẩm định từ bối cảnh, tổ chức, nội dung đến phương pháp thẩm định; chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân.
Về giải pháp:
- Xây dựng hệ thống quan điểm hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư, đề xuất các giải pháp trực tiếp từ hoàn thiện nhận thức đến tổ chức, nội dung và phương pháp thẩm định phù hợp với điều kiện phân cấp quản lý đầu tư và chuyển đổi mô hình hoạt động của TCTXD.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn trong các TCTXD trực thuộc Bộ Xây dựng và giai đoạn 2001–2005, do đó các kết luận và giải pháp gắn chặt với bối cảnh thể chế và hệ thống pháp luật của thời điểm nghiên cứu (Luật Xây dựng 2003, Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp 2005). Văn bản không nêu rõ hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp trong một mục riêng biệt. Từ phạm vi nghiên cứu, có thể nhận thấy luận án chưa xem xét các TCTXD ngoài hệ thống Bộ Xây dựng, cũng như chưa có điều kiện theo dõi hiệu quả các dự án sau giai đoạn thẩm định để kiểm chứng mối quan hệ nhân quả giữa chất lượng thẩm định và kết quả thực hiện dự án về dài hạn.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh và giảng viên thuộc các chuyên ngành Kinh tế đầu tư, Quản lý dự án, Kinh tế xây dựng có thể tham khảo Chương 1 về hệ thống lý luận thẩm định dự án và khung phân tích phân cấp thẩm định, đặc biệt là bộ khái niệm và các bảng tổng hợp yêu cầu theo cấp độ quản lý (Bảng 1.1, 1.2).
- Cán bộ quản lý và thẩm định tại các tổng công ty, tập đoàn xây dựng và doanh nghiệp nhà nước có thể tham khảo Chương 2 về thực trạng và Chương 3 về hệ thống giải pháp, đặc biệt là quy trình cải tiến tổ chức thẩm định (Sơ đồ 3.1) và bộ điều kiện để thẩm định có chất lượng.
- Người làm chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng và các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng có thể tham khảo phần phân cấp thẩm định và các nguyên tắc phân cấp, cũng như dữ liệu thực trạng giai đoạn 2001–2005 làm tài liệu nền về quá trình chuyển đổi thể chế quản lý đầu tư xây dựng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt thẩm định dự án ở cấp Nhà nước và cấp doanh nghiệp như thế nào?
Theo Bảng 1.1 và Bảng 1.2, ở cấp Nhà nước, mục tiêu thẩm định là đảm bảo sử dụng có hiệu quả vốn ngân sách và lợi ích kinh tế – xã hội quốc gia, quan điểm phân tích chú trọng phân tích kinh tế (chỉ tiêu NVA). Ở cấp doanh nghiệp với vai trò chủ đầu tư, mục tiêu là lựa chọn dự án hiệu quả cho doanh nghiệp, quan điểm phân tích chú trọng phân tích tài chính, tổ chức thực hiện do các phòng ban nội bộ doanh nghiệp đảm nhiệm (có thể mời tư vấn ngoài nếu thiếu năng lực).
2. Các dự án đầu tư không hiệu quả và phải điều chỉnh ở các TCTXD giai đoạn 2001–2005 tập trung vào lĩnh vực nào?
Thông tin này được phản ánh trong Bảng 2.9 (các dự án không hiệu quả theo lĩnh vực, giai đoạn 2001–2005) và Bảng 2.10 (số dự án phải điều chỉnh năm 2005). Văn bản liệt kê các bảng này nhưng không trích dẫn số liệu chi tiết theo từng lĩnh vực trong phần fulltext được cung cấp.
3. Công tác thẩm định dự án ở TCTXD có đặc điểm gì khác biệt so với cơ quan nhà nước?
Tác giả chỉ ra ba đặc điểm chính: (1) Có tính chất thẩm định nội bộ – các công việc do các phòng ban chức năng thuộc TCT thực hiện, chịu ảnh hưởng áp lực từ phía các nhà quản lý; (2) Sự chuyên môn hoá trong thẩm định chưa cao – cán bộ Phòng Đầu tư phải kiêm nhiệm nhiều công việc, không chuyên trách thẩm định, chủ yếu được điều động từ phòng ban khác hoặc qua các khoá bồi dưỡng ngắn hạn; (3) Do chuyên môn hoá không cao, đòi hỏi cần có sự tham gia của lực lượng chuyên gia, tư vấn, đặc biệt với các dự án quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp.
4. Luận án đề xuất bao nhiêu phương pháp thẩm định và nội dung của từng phương pháp là gì?
Chương 1 đề cập bốn phương pháp thẩm định: Phương pháp 1 là thẩm định theo trình tự (xem xét tuần tự các nội dung của dự án); Phương pháp 2 là thẩm định dựa trên việc so sánh với các dự án tương tự; Phương pháp 3 là thẩm định dựa trên phân tích độ nhạy cảm (cho kết quả mang tính khách quan hơn so với phương pháp chủ quan); Phương pháp 4 là thẩm định có xem xét đến các yếu tố rủi ro, nhằm đánh giá độ an toàn của dự án và đề xuất biện pháp phòng ngừa, phân tán rủi ro. Trên thực tế, dự án được thẩm định bằng sự kết hợp của hai hay nhiều phương pháp.
5. Những điều kiện nào được xác định là cần thiết để thẩm định dự án đầu tư ở TCTXD đạt chất lượng?
Tác giả xác định sáu điều kiện: (1) hệ thống văn bản pháp quy của Nhà nước thống nhất, đồng bộ và cụ thể; (2) mỗi TCTXD thiết lập quy trình lập, thẩm định và phê duyệt dự án phù hợp; (3) thiết lập mối liên hệ mật thiết với cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức tư vấn và chuyên gia; (4) đội ngũ cán bộ thẩm định đủ số lượng và chất lượng, có trình độ đại học trở lên, có kinh nghiệm tối thiểu 5 năm trong lĩnh vực quản lý đầu tư và xây dựng; (5) trang bị đầy đủ phương tiện thẩm định hiện đại, đồng bộ kể cả phần mềm chuyên dụng; (6) dành kinh phí thích đáng cho công tác thẩm định, bởi chi phí theo quy định hiện hành chỉ tính theo tỷ lệ phần trăm rất nhỏ so với tổng mức đầu tư.
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Thị Mai Hương nghiên cứu toàn diện công tác thẩm định dự án đầu tư tại các Tổng công ty xây dựng trực thuộc Bộ Xây dựng giai đoạn 2001–2005, trong bối cảnh phân cấp quản lý đầu tư và chuyển đổi mô hình hoạt động doanh nghiệp nhà nước. Đóng góp lý luận chính là xây dựng khái niệm thẩm định dự án đầu tư theo quan điểm tổng hợp, mở rộng từ góc độ kỹ thuật phân tích sang xem xét toàn diện cả quy trình tổ chức, đội ngũ, phân cấp và phương tiện thẩm định ở cấp độ vi mô – doanh nghiệp. Luận án lấp được khoảng trống của các công trình trước vốn chỉ dừng ở phân tích kỹ thuật hoặc tầm vĩ mô ngành, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện thẩm định dự án của doanh nghiệp xây dựng trong vai trò chủ đầu tư. Hệ thống giải pháp đề xuất có tính thực tiễn, gắn trực tiếp với điều kiện chuyển đổi mô hình và phân cấp đầu tư đang diễn ra tại thời điểm nghiên cứu.