CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG 1. Một số định nghĩa về thực phẩm chức năng Thuật ngữ “Thực phẩm chức năng” chưa có một định nghĩa thống nhất quốc tế, nhưng được sử dụng rất rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Gần đây các định nghĩa về thực phẩm chức năng được đưa ra nhiều hơn và có xu hướng gần thống nhất với nhau.
+ Ở Mỹ quan điểm theo quan điểm của ADA (The American Dietetic Association): TPCN bao gồm tất cả các thành phần có trong nó và cũng là thực phẩm được làm mạnh thêm, làm giàu thêm hoặc nâng cao thêm yếu tố nào đó, có hiệu quả tiềm năng đến sức khỏe khi tiêu thụ một phần nó trong khẩu phần có nhiều loại một cách thường xuyên với mức độ có tác dụng. + Hiệp Hội thực phẩm sức khoẻ và dinh dưỡng thuộc Bộ Y tế Nhật Bản, định nghĩa: “Thực phẩm chức năng là thực phẩm bổ sung một số thành phần có lợi hoặc loại bỏ một số thành phần bất lợi. Việc bổ sung hay loại bỏ phải được chứng minh và cân nhắc một cách khoa học và được Bộ Y tế cho phép xác định hiệu quả của thực phẩm đối với sức khoẻ”. + Hiệp Hội thông tin thực phẩm quốc tế (IFIC), định nghĩa: “ Thực phẩm chức năng là thực phẩm mang đến những lợi ích cho sức khoẻ vượt xa hơn dinh dưỡng cơ bản”.
+ Theo tổ chức AFGC tại Australia, định nghĩa: “Thực phẩm chức năng là những thực phẩm có tác dụng đối với sức khoẻ hơn là các chất dinh dưỡng thông thường. Thực phẩm chức năng là thực phẩm gần giống như các thực phẩm truyền thống nhưng nó được chế biến để cho mục đích ăn kiêng hoặc tăng cường các chất dinh dưỡng để nâng cao vai trò sinh lý của chúng khi bị giảm dự trữ. Thực phẩm chức năng là thực phẩm được chế biến, sản Luan van 10 xuất theo công thức, chứ không phải là các thực phẩm có sẵn trong tự nhiên”. + Hàn Quốc: Trong Pháp lệnh về thực phẩm chức năng (năm 2002) đã có định nghĩa như sau: “Thực phẩm chức năng là sản phẩm được sản xuất, chế biến dưới dạng bột, viên nén, viên nang, hạt, lỏng.
có các thành phần hoặc chất có hoạt tính chức năng, chất dinh dưỡng có tác dụng duy trì, thúc đẩy và bảo vệ sức khoẻ”. + Bộ Y tế Việt Nam: Thông thư số 08/TT-BYT ngày 23/8/2004 về việc “Hướng dẫn việc quản lý các sản phẩm thực phẩm chức năng” đã đưa ra định nghĩa: “Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của các bộ phận trong cơ thể người, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng và giảm bớt nguy cơ gây bệnh”. + Như vậy, có rất nhiều các định nghĩa về thực phẩm chức năng. Song tất cả đều thống nhất cho rằng: Thực phẩm chức năng là loại thực phẩm nằm giới hạn giữa thực phẩm(truyền thống – Food) và thuốc (Drug).
Tổng hợp lại, tác giả có thể đưa ra một định nghĩa như sau: “Thực phẩm chức năng (TPCN) là các sản phẩm dùng để hỗ trợ (phục hồi, duy trì hoặc tăng cường) chức năng của các bộ phận trong cơ thể, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng và giảm bớt nguy cơ bệnh tật”. * Tên gọi: TPCN tuỳ theo công dụng, hàm lượng vi chất và hướng dẫn sử dụng, còn có tên gọi khác sau: + Tại Việt Nam và nhiều nước khác (như Nhật Bản, Hàn Quốc. (3) Sản phẩm bảo vệ sức khoẻ – Health Produce (4) Thực phẩm đặc biệt – Food for Special use. (5) Sản phẩm dinh dưỡng y học – Medical Supplement.
Luan van 11 + Mỹ: Dietary Supplement (thực phẩm bổ sung) và Medical Supplement (thực phẩm y học hay thực phẩm điều trị). + EU: Thực phẩm bổ sung (giống như thuật ngữ Dietary Supplement của Mỹ). + Trung Quốc: Sản phẩm bảo vệ sức khoẻ hay còn được dịch nguyên bản là thực phẩm vệ sinh. Chức năng của các sản phẩm này rất rộng, bao gồm cả Dietary Supplement (thực phẩm bổ sung) và Medical Supplement (thực phẩm y học hay thực phẩm điều trị).
* Vai trò của thực phẩm chức năng: § Tác dụng chống lão hóa, kéo dài tuổi thọ § Tác dụng tạo sức khỏe sung mãn § Tác dụng tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ bệnh tật. § Hỗ trợ phòng và trị bệnh § Hỗ trợ làm đẹp 1. Thực trạng phát triển ngành thực phẩm chức năng hiện nay + Trên thế giới: Thị trường TPCN là một trong những thị trường tăng trưởng nhiều và nhanh nhất, với tốc độ tăng là 20-30% / năm. Tại Nhật Bản, năm 2004 các sản phẩm TPCN của FOSHU đạt 5,5 tỷ USD.
Tại Mỹ, năm 2006, có 20 loại TPCN từ dược thảo được bán trên kênh FDM (Food, Drug of Market Retail Stores) đã đạt 249.000 USD, năm 2007, thực phẩm bổ sung vitamin đạt 1,8 tỷ USD. Toàn bộ TPCN ở Mỹ chiếm 32% TPCN trên toàn thế giới. Thị trường TPCN thế giới năm 2007 đã đạt 70 tỷ USD, năm 2012 tăng lên trên 110 tỷ USD. Số người sử dụng TPCN cũng ngày càng tăng lên.
Tại Nhật bình quân đầu người sử dung 126 USD TPCN mỗi năm, tại Mỹ là 70 USD, tại châu Âu là 61 USD. Những người trưởng thành ở Mỹ năm 2006 có 40% sử dụng TPCN, năm 2007 tăng lên 52% và năm 2010 tăng lên 72%. Luan van 12 Ở Nhật tỷ lệ ấy là 80% + Tại Việt Nam Từ năm 1999, TPCN từ các nước bắt đầu nhập khẩu chính thức vào Việt Nam. Đồng thời, do có sẵn nguồn nguyên liệu, có lịch sử lâu đời nền y học cổ truyền, có sẵn dây truyền sản xuất thuốc và đội ngũ công nhân chuyên nghiệp và trào lưu phát triển TPCN trên thế giới, các công ty dược, các cơ sở sản xuất thuốc Y học cổ truyền bắt đầu chuyển sang sản xuất TPCN.
Số người sử dụng TPCN ngày càng tăng. Chỉ tính những người sử dụng TPCN qua kênh bán hàng đa cấp cho thấy: Năm 2005 có khoảng 1 triệu người ở 23 tỉnh (1,1% dân số) sử dụng TPCN.000 người ở khắp 63 tỉnh, thành phố (chiếm 6,6% dân số) sử dụng TPCN. Cục An toàn thực phẩm đã điều tra (năm 2011) cho thấy ở Tp. Hồ Chí Minh có 43% số người trưởng thành và ở Hà Nội có 63% số người trưởng thành sử dụng TPCN.1: Số liệu thị trường thực phẩm chức năng Việt Nam giai đoạn 2000-2012 (Nguồn: Hiệp hội TPCN VN, trích trong VB 468/QĐ – VAFF, tr.
13) Luan van 13 Theo bảng trên có thể thấy được sự phát triển của thị trường thực phẩm chức năng tại Việt Nam. Năm 2000 chỉ có 13 cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm chức năng trong đó tất cả là sản phẩm nhập khẩu từ thị trường nước ngoài nhưng đến năm 2012 thì số cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm chức năng đã tăng lên hơn 12 lần so với năm 2000 và đạt đến 1552 cơ sơ trong đó số sản phẩm trong nước tăng lên 2316 sản phẩm.2 : Số liệu sản phẩm thực phẩm chức năng Việt Nam 2000-2012 (Nguồn: Hiệp hội TPCN VN, trích trong VB 468/QĐ – VAFF, tr. 15) Năm 2000 số sản phẩm thực phẩm chức năng chỉ là 63 sản phẩm tuy nhiên sau 12 năm thị trường thực phẩm chức năng Việt Nam đã phong phú và đa dạng vượt bậc đến 5514 sản phẩm trong đó sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài chiếm ứu thế hơn sản xuất trong nước. Năm 2012, số sản phẩm nhập khẩu là 3198 sản phẩm trong khi sản xuất trong nước là 2316 sản phẩm.
Các thách thức và tồn tại trong ngành thực phẩm chức năng Việt Nam a. Thách thức lớn nhất là nhận thức chưa đầy đủ về TPCN: từ định nghĩa, phân loại, phân biệt, tác dụng, quản lý TPCN trên thế giới và ở Việt Nam. Các quy định pháp luật về TPCN còn thiếu và chưa đầy đủ, đặc biệt là các tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy định quản lý. Các cơ sở, công ty, tổ chức, cá nhân sản xuất còn mang tính riêng lẻ, trước mắt vì lợi ích riêng của mình, chưa có sự liên kết, tổ hợp để tạo ra sức mạnh dây chuyền và bền vững.
Người tiêu dùng sử dụng TPCN còn thấp, mục đích sử dụng phần lớn là để hỗ trợ chữa bệnh. Nguy cơ suy giảm nguồn dược thảo TPCN f. Một số hành vi vi phạm làm ảnh hưởng đến phát triển của ngành: + Quảng cáo còn sai phạm + Một số cơ sở kinh doanh đã tổ chức đi các vùng nông thôn liên kết với hội phụ nữ, hội người cao tuổi tổ chức tuyên truyền, khám bệnh, xét nghiệm rồi bán sản phẩm với phương thức “quét” một lần, đi qua không để lại đầu mối để liên hệ. Các hoạt động này vi phạm luật khám chữa bệnh và các quy định quản lý của ngành y tế.
+ Còn có sản phẩm giả, nhập lậu, xách tay, kém chất lượng lưu hành trên thị trường. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÁI ĐỘ VÀ Ý ĐỊNH TIÊU DÙNG Trên lý thuyết, người tiêu dùng ra quyết định dựa vào lý trí của họ để tối đa hóa giá trị sử dụng, để thực hiện điều này người tiêu dùng trải qua quá trình nhận thức bao gồm việc xác định những thuộc tính quan trọng của sản phẩm, thu thập thông tin và đánh giá các thuộc tính của các thương hiệu cạnh Luan van 15 tranh để chọn lựa thương hiệu tối ưu. Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng quyết định theo cảm xúc, dựa trên các tiêu chuẩn chủ quan như thị hiếu, niềm kiêu hãnh, ham muốn và mạo hiểm, thích thú thể hiện cá tính của mình. Lý thuyết về thái độ a.
Định nghĩa Thái độ là một khái niệm quan trọng và không thể thiếu trong nghiên cứu Marketing. Nó là một khái niệm quan trọng mà các nhà marketing thường sử dụng khi nghiên cứu về người tiêu dùng và vì vậy nó được bàn đến trong nhiều tác phẩm nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng. Có nhiều định nghĩa về thái độ khác nhau, mỗi định nghĩa có ít nhiều điểm khác nhau tùy thuộc vào quan nhiệm của mỗi tác giả. Một trong những khái niệm đầu tiên về thái độ được Thursntone trình bày vào năm 1931.
Thursntone xem thái độ là một khái niệm đơn giản: “ Thái độ là một lượng cảm xúc của một người đối với một đối tượng “ Năm 1935 nhà tâm lý học người Mỹ Gordon Allport đã định nghĩa: “Thái độ là một trạng thái thiên về nhận thức (learned) để phản ánh việc thích hay không thích một đối tượng cụ thể nào đó”. Theo Fishbein xác định thái độ là “ một khuynh hướng của con người” (Fishnein, 1975).