đặt vấn đề phân vùng các khu vực nhằm xem xét tác động và khả năng chống chịu của chúng. Nghiên cứu của Shelby G. tiến hành phân vùng khu vực để đánh giá KNCC khí hậu ở đô thị ở nhằm hỗ trợ cho quy hoạch, trong đó tác giả đề cập đến sự khác biệt về cơ sở hạ tầng ở mỗi tiểu vùng liên quan đến khả năng chống chịu của nó [135]. Thực tế đến nay chưa tìm thấy các báo cáo khoa học nói về việc phân vùng sinh thái – xã hội để phục vụ cho đánh giá tác động hoặc rủi ro khí hậu.
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới hệ sinh thái – xã hội • Biến đổi khí hậu tác động của tới hệ sinh thái – xã hội: BĐKH gây tác động tất cả các lĩnh vực hạ tầng, kinh tế, sức khoẻ, đa dạng sinh học và đe doạ đến an ninh, môi trường và sự phát triển toàn cầu [53], và, đánh giá các rủi ro do BĐKH gây ra đối với hệ thống tự nhiên - xã hội là rất cần thiết nhằm xây dựng các chiến lược thích ứng phù hợp. Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) đã tổng hợp hàng nghìn nghiên cứu từ nguyên nhân đến hệ quả, tác động của BĐKH đối với tự nhiên, môi trường, KT- XH cho đến các chiến lược thích ứng và giảm nhẹ. IPCC đã công bố 06 báo cáo đánh giá (AR) - là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH trong đó điển hình là Hội nghị các bên nước tham gia UNFCCC (COP 1-26). Báo cáo lần thứ 4 của IPCC kết luận, những biến đổi trong khí quyển, đại dương và các sông băng chứng tỏ Trái đất đang nóng lên [93], và, giai đoạn 2006–2015 nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,87oC [95].
Năm 2018, IPCC công bố Báo cáo đặc biệt 1,5oC nêu bật một số tác động của BĐKH có thể tránh được bằng cách hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở document, khoa luan23 of 98. tai lieu, luan van24 of 98. Cho đến nay, các nghiên cứu về các tổn thất, thiệt hại do BĐKH chủ yếu tập trung vào các hệ thống con người và chưa đề cập thoả đáng đến vai trò trung gian của các hệ sinh thái và các dịch vụ mà hệ sinh thái cung cấp cho hệ thống xã hội, con người. Đây là một lỗ hổng kiến thức lớn vì những tổn thất và thiệt hại đối với con người thường là do những xáo trộn lâu dài hoặc tạm thời do các tác nhân khí hậu gây ra cho các dịch vụ của HST.
Đối với hệ thống tự nhiên, BĐKH có thể sẽ làm thay đổi các thành phần và chức năng của HST và do đó sẽ làm thay đổi cả số lượng, chất lượng các dịch vụ mà HST cung cấp, và theo nghiên cứu của Granger (2001), điều này liên quan mật thiết đến các quốc gia đang phát triển bởi sự quan hệ phụ thuộc vào tự nhiên của kinh tế nông nghiệp, lương thực và sinh kế cộng đồng [83]. Nghiên cứu của Selvaraju và cs (2009) dự báo BĐKH sẽ cản trở sự phát triển bền vững của nhiều lĩnh vực kinh tế do những ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng, vật nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và sinh kế; có thể làm cho từ 50-170 triệu người có nguy cơ thiếu ăn vào năm 2080, mức độ tùy thuộc vào các dự án hỗ trợ về khí hậu, KT-XH [134]. Moktar và các cs (2016) cho rằng ở các vùng ven biển, để tăng tính thích ứng cần tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong giám sát, đánh giá [113], dù vậy nghiên cứu này chưa đề cập đến vai trò của các HST tự nhiên trong thích ứng. Nghiên cứu điển hình của Lily và các cs (2018) cho biết, các mối liên hệ nhân quả giữa BĐKH và sự phát triển hay suy thoái của các hệ thống sinh thái – xã hội ở quy mô nhỏ hay lớn thường rất phức tạp [107].
Nghiên cứu về vấn đề BĐKH theo tiếp cận hệ ST-XH bắt đầu được thảo luận trong một số nghiên cứu gần đây, chủ yếu trong khoa học xã hội, môi trường. Grimm và các cs (2013) và Hai-Long và các cs (2015) mô tả mối quan hệ giữa các suy thoái môi trường, tự nhiên với đời sống con người và nhấn mạnh, BĐKH là một cú sốc lớn có thể tác động hoặc làm biến đổi toàn diện các hệ thống tự nhiên (như các HST, nguồn gien, các loài) và xã hội (sinh kế cộng đồng, sự an toàn cư trú, vấn đề di cư) [84, 86]. Vấn đề ứng phó BĐKH gắn với quản lý tài nguyên xuất hiện thường xuyên hơn trong các công bố khoa học về SES với các tác giả như Lance (2000), Walker (2006), Tessovà cs, 2012; Grimm (2013); Folke (2003, 2014), Delgado (2015), Hai- document, khoa luan24 of 98. tai lieu, luan van25 of 98.
15 Long (2015); Chaiteera (2017), Adán (2018),… và chứng minh tính DBTT cũng như mối quan hệ tác động nhân quả của thời tiết cực đoan tới các hợp phần của hệ ST- XH. Các vấn đề được bàn luận nhiều là các mô hình thích ứng theo tiếp cận SES, tính DBTT và khả năng chống chịu của các HST nông nghiệp, mối liên quan của chúng với các yếu tố xã hội, chính trị. Nhiều tác giả đã chứng minh tính DBTT của các hệ ST-XH ở cả nông thôn và đô thị. Céline và các cs (2012) chỉ ra, nhiệt độ trung bình tăng và nắng nóng kéo dài làm cho các HST bị chia cắt, chúng phản ứng yếu ớt, chậm chạp hơn trước những sự thay đổi và điều này sẽ làm mất đi nhiều loài sinh vật [62].
Các nghiên cứu về BĐKH trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, sử dụng đất dường như được biết đến nhiều hơn so với mảng ĐDSH, hệ sinh thái. Nhìn chung, các nghiên cứu trên đều nhấn mạnh đến tính tổn thương mà các hệ thống xã hội, tự nhiên phải gánh chịu do BĐKH, nhưng các tác giả tập trung nhiều hơn vào các cảnh báo rủi ro mà chưa đề cập đến tính chống chịu BĐKH về lâu dài của các hệ thống này. • Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới hệ sinh thái – xã hội Hệ sinh thái – xã hội và các hợp phần của hệ chịu ảnh hưởng, tác động khác nhau bởi các yếu tố BĐKH. Khi đánh giá tác động của BĐKH, thế giới hiện phổ biến hai kiểu tiếp cận chính là dựa trên đánh giá tác động (impact-based approaches) và dựa trên đánh giá tổn thương (vulnerability-based approaches) [52, 106].
Tiếp cận dựa trên tác động là đánh giá hiện trạng và tiềm năng ảnh hưởng của BĐKH đến hệ thống các thành phần của hệ sinh thái – xã hội theo các kịch bản khác nhau, gồm các tác động ở hiện tại, tương lai (theo kịch bản) và cần được cập nhật khi các kịch bản BĐKH, NDB và quy hoạch KT-XH, chính sách có điều chỉnh. Các nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương được chia làm hai loại: đánh giá DBTT theo cách tiếp cận “thế hệ thứ nhất” và cách tiếp cận “thế hệ thứ hai” (IPCC, 2007) [93]. Cách tiếp cận “thế hệ thứ nhất” còn được gọi là tiếp cận “tác động của BĐKH” hay “từ trên xuống” được xây dựng để giúp hiểu những tác động tiềm tàng của BĐKH trong dài hạn, chủ yếu dựa trên chuỗi số liệu quá khứ và kịch bản. Ngược lại, cách tiếp cận “thế hệ thứ hai”, hay còn được gọi là cách tiếp cận “thích ứng với BĐKH” hay “từ dưới lên” thì tập trung vào các hệ quả của thiên, rủi ro khí hậu gây ra cho đời sống, tự nhiên và đề ra các giải pháp thích ứng với sự tham gia của cộng đồng.
Theo document, khoa luan25 of 98. tai lieu, luan van26 of 98. Zenebe và cs (2018) trong một nghiên cứu về tính DBTT do BĐKH của hộ gia đình và HST nông nghiệp ở Ethiopia chỉ ra rằng, các hộ dân có sinh kế phụ thuộc lớn vào HST thì rủi ro cao hơn, và, có sự khác biệt lớn về mức độ rủi ro của các cộng đồng sống ở các tiểu vùng sinh thái khác nhau [152]. Nghiên cứu cũng khuyến nghị cần áp dụng đồng thời cả tiếp cận đánh giá từ trên xuống và từ dưới lên, cả đánh giá định lượng và định tính với các hợp phần được chọn.
Đây cũng là một trong số ít các nghiên cứu đề cập đến phân vùng tác động và các rủi ro phức tạp về tự nhiên – con người trong khi đánh giá tính DBTT của hệ thống sinh thái – xã hội. Kết quả chung của một số nghiên cứu điển hình như trên đã cho thấy, tiếp cận việc đánh giá tác động của BĐKH theo hệ sinh thái – xã hội tạo điều kiện cho sự hiểu biết tổng thể về những biến đổi của khí hậu trên quy mô lớn tác động như thế nào đến các hợp phần của cả hệ thống sinh thái và xã hội, cũng như cách con người có thể quản lý, giảm thiểu, hưởng lợi và / hoặc thích ứng với những thay đổi này. Trên phạm vi quốc tế, việc nghiên cứu về đánh giá các tác động của BĐKH đến hệ ST-XH và đề xuất các chiến lược, kế hoạch ứng phó hiện đã trở thành vấn đề toàn cầu, được ưu tiên quan tâm trên nhiều diễn đàn khoa học quốc tế. Nghiên cứu của các nhà khoa học đã đề cập đến nguyên nhân, tác động, giải pháp ứng phó BĐKH trong nhiều lĩnh vực, nhiều quốc gia, vùng miền, đối tượng DBTT với đa dạng cách tiếp cận và phương pháp.
Có thể nói, các phương pháp tiếp cận định lượng hoặc bán định lượng, đa diện, liên ngành để đánh giá tính DBTT là cần thiết để nâng cao hiểu biết của con người về các tác động, rủi ro đến môi trường, kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, hiện chưa có nhiều công bố khoa học bàn về tác động của BĐKH đến các hệ ST-XH và vai trò của nguồn lực để tăng khả năng chống chịu của hệ ST-XH. document, khoa luan26 of 98. tai lieu, luan van27 of 98.
Đánh giá khả năng chống chịu biến đổi khí hậu của hệ sinh thái – xã hội và phương pháp đánh giá bằng bộ chỉ số 1. Khả năng chống chịu của hệ thống Theo nghĩa chung nhất có thể hiểu khả năng chống chịu (KNCC) là khả năng phục hồi/ trở về trạng thái/ hình dạng/ kích thước ban đầu của một vật, một hệ thống, một tình trạng sau khi bị tác động từ bên ngoài. Nghiên cứu tổng hợp của Lance H.