ĐẶT VẤN ĐỀ Bạch tật lê (Tribulus terrestris) là một loại thảo dƣợc đƣợc trồng quanh năm ở khu vực Địa Trung Hải và các vùng có khí hậu ấm ở Châu Âu, Châu Á, Mỹ, Châu Phi và Australia. Từ lâu, loại cây này đã đƣợc sử dụng trong y học cổ truyền của Trung Quốc, Ấn Độ, Iraq, Bulgari, Nam Phi và Iran. Bạch tật lê có rất nhiều thành phần có hoạt chất sinh học nhƣ steroid, saponin, flavonoid, alkaloid, các acid béo không bão hòa, vitamin, tannin, acid aspartic và acid glutamic. Trong đó saponin đƣợc coi là thành phần đặc trƣng nhất của cây đã đƣợc nghiên cứu và ứng dụng từ lâu để làm tăng khả năng sinh sản ở cả động vật thí nghiệm và ngƣời.
Cây Bạch tật lê đƣợc dùng điều trị cho bệnh nhân nam giới vô sinh bởi vì có tác dụng tăng số lƣợng tinh trùng và khả năng di động tinh trùng. Bên cạnh đó, Bạch tật lê còn làm cải thiện khả năng cƣơng cứng và các hành vi tình dục ở động vật thí nghiệm. Các tác dụng trên là do Bạch tật lê có chứa thành phần protodioscin saponin tăng các hormon sinh dục ảnh hƣởng lên hệ thống sinh sản. Protodioscin làm tăng hormon sinh dục testosterone tự do trong máu, dihydrotrestosterone (DHT), dehydroepiandrosterone (DHEA) dehydroepiandrosterone sulfat (DHEA- S), đồng thời cân bằng nồng độ estrogen, progesterone và pregnenolone.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với các mục tiêu: Nghiên cứu các điều kiện tách chiết hoạt chất protodioscin từ cây Bạch tật lê nhằm tìm ra hoạt chất sinh học an toàn, hiệu quả trong điều trị tăng cƣờng sinh lực ở nam giới. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây Bạch tật lê (Tribulus terrestris L.
Đặc điểm hình thái, phân loại và phân bố. Phân loại Chi Tribulus thuộc họ Zygophyllaceae bao gồm khoảng 20 loài trên thế giới, trong đó có ba loài: Tribulus cistoides, Tribulus terrestris, và Tribulus alatus xuất hiện phổ biến ở Ấn Độ. Trong số đó, Bạch tật lê (T. terrestris) đƣợc sử dụng nhƣ một dƣợc liệu quý nhằm hỗ trợ và cải thiện sức khỏe con ngƣời.
Bạch tật lê là một loài cây bụi, đƣợc tìm thấy ở Địa Trung Hải, cận nhiệt đới và sa mạc vùng khí hậu trên toàn thế giới nhƣ Ấn Độ, Trung Quốc, các quốc gia Nam Mỹ, Mexico, Tây Ban Nha, và Bulgaria [16]. Phân loại Giới: Plantae Phân giới: Phanerogams Phân ngành: Angiospermae Lớp: Dicotyledonae Phân lớp: Polypetalae Dòng: Disciflorae Bộ: Giraniales Họ: Zygophyllaceae Chi: Tribulus Loài: terrestris Linn [16] 1. Đặc điểm hình thái, sinh thái và phân bố. Trên thế giới cây Bạch tật lê đƣợc mô tả với các đặc điểm nhƣ sau: Thân thấp nhỏ, cao 10-60 cm, tối màu.
Gốc hình trụ, dài 7-18 cm đƣờng kính 0,3-0,7 cm. Lá kép mọc đối từ 5 đến 8 cặp hình elip hoặc hình trụ tuy nhiên bất đối xứng. Hoa có màu vàng. Quả có nhiều hình dạng (tròn, dẹt, năm góc) và thƣờng đƣợc bao phủ một màu vàng nhạt, có nhiều hạt.
Rễ xơ, hình trụ, thƣờng phân nhánh, mang một số rễ nhỏ và có màu nâu nhạt (Hình 1. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hình thái toàn cây và quả Bạch tật lê (Tribulus terrestris) [16] Tại Việt Nam cây Bạch tật lê đƣợc Bùi Đình Thạch và cộng sự (2011) mô tả với đặc điểm hình thái tƣơng tự: Cây thảo, mọc bò lan, phân nhánh nhiều, có lông trắng nằm. Lá kép lông chim, mọc đối hoặc gần đối, một to một nhỏ, gồm 5-7 đôi lá chét bằng nhau; phiến lá dài 5-16 mm, rộng đến 2,5 mm, phủ lông trắng ở mặt dƣới.
Hoa mọc riêng lẻ ở nách lá; lá đài 5; cánh hoa 5, nhỏ ngắn hơn 1 cm, mỏng, màu vàng, vành xanh, sớm rụng; nhị 10, có 5 dài, 5 ngắn; bầu 5 ô. Quả thƣờng có 5 cạnh có gai, có lông dày, tách thành 5 mảnh vỏ rất cứng, mỗi mảnh mang nhiều hạt. Mùa hoa tháng 5-7; mùa quả tháng 8-9 (Hình 1. Đặc điểm hình thái của cây Bạch tật lê (Tribulus terrestris) [1] 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sinh thái: Cây ƣa sáng, chịu đƣợc khô hạn, thƣờng mọc thành đám nhỏ trên các bãi cát ven biển.
Cây tái sinh bằng hạt vào mùa mƣa. Sinh trƣởng phát triển nhanh, bò lan trên mặt đất. Sau khi mùa hoa quả kết thúc, cây cũng tự tàn lụi vào đầu mùa khô. Quả tự mở khi chín để hạt thoát ra ngoài.
Hạt nằm lẫn trong cát suốt mùa khô vẫn còn khả năng nảy mầm tốt. Phân bố: Bạch tật lê phân bố rải rác ở khắp các vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và cả vùng ôn đới ấm của châu Âu. Ở Việt Nam, cây chỉ gặp ở vùng ven biển, từ Quảng Bình, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận đến Trà Vinh [1,2]. Thành phần hóa học và tác dụng dược lí của cây Bạch tật lê 1.
Thành phần hóa học của cây Bạch tật lê Nghiên cứu thành phần hóa học sơ bộ của Bạch tật lê cho thấy sự có mặt của saponin, flavonoid, glycosid, alkaloid và tanin [56]. Trong đó saponin và furostanol saponin đƣợc xem là thành phần chính bao gồm 58 loại saponin spicrostan và 50 loại saponin furostane (Hình 1. Các saponin steroid nhƣ protodioscin, prototribestin, rutin và dioscin đƣợc xem là các saponin có hoạt tính sinh học của Bạch tật lê (Hình 1. Tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu trƣớc đây cho thấy thành phần saponin và hàm lƣợng saponin của cây Bạch tật lêtừ các vùng địa lý khác nhau là khác nhau [31].
Các hợp chất flavonoid của Bạch tật lêchủ yếu là các dẫn xuất của quercetin, kaempferol và isorhamnetin bao gồm: Quercetin (109), iso-quercitrin (110), rutin (111), quercetin-3-O-gent (112), quercetin-3-O-gentr (113), quercetin-3-0-rha-gent (114), quercetin-3-O-gent-7-O- glu (115) là favonoid với quercetin là cấu trúc gốc cơ bản. Isorhamnetin (116), isorhamnetin-3-O-glu (117), isor-hamnetin-3-O-gent (118), isorhamnetin-3-O-rutinoside (119), isorhamnetin-3-O-rutinoside (120), isorhamnetin-3,7-di-O-glu (121), isorhamnetin-3-O-p-coumarylglu (122), isorhamnetin-3-O-gent-7-O-glu (123), isorham-netin-3-O-gentr-7-O-glu (124) là favonoid với isorhamnetin là cấu trúc gốc cơ bản. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kaempferol (125), kaempferol-3-O-glu (126), kaemp-ferol-3-O-gent (127), kaempferol-3-O-rutinoside (128), kaemp-ferol-3-O-gent kaempferol-3-O-gent-7-O- glu (129), tribuloside (130) là favonoid với kaempferol nhƣ cấu trúc gốc cơ bản (Hình 1.6) Alkaloid bao gồm: Tribulusamide C (131), tribulusterine (132), tribulusinA (133), harmine (134), harman (135), harmmol (136), tribulusimide C (137), terrestriamide (138), N-trans- coumaroyltyramine (139), N-trans-cafeoyltyramine (140), terrestribisamide (141) là những alkaloid chính đƣợc tách từ thân, lá và quả của Bạch tật lê. Các alkaloid của hạt chủ yếu thuộc nhóm β-carboline alkaloid và amide alkaloid (Hình 1.
Nghiên cứu của Kostova về tác dụng hóa học và hoạt tính sinh học của saponin chỉ ra rằng furostanol và saponin spirostanol của tigogenin, neotigogenin, gitogenin, neogitogenin, hecogenin, neohecogenin, diosgenin, chlorogenin, ruscogenin và sarsasapogenin thƣờng đƣợc phát hiện ở cây Bạch tật lê. Ngoài ra, bốn saponin sulfat của tigogenin và diosgenin cũng đƣợc phân lập, chủ yếu là các furostanol glycoside bao gồm: protodioscin và protogracillin, trong đó protodioscin là chất saponin chủ yếu nhất và chỉ có một lƣợng nhỏ các spirostanol glycoside [31,54]. Wu và cộng sự chỉ ra rằng trong cây Bạch tật lêhàm lƣợng flavonoid gấp 1,5 lần lƣợng saponin [5]. Bhutani và cộng sự đã phân lập đƣợc các hợp chất kaempferol, kaempferol-3-glucoside, kaempferol-3-rutinoside và tribuloside [kaempferol-3- β-D- (6 "-p-coumaroyl) glucoside] từ lá, quả cây Bạch tật lêvà xác định công thức của các hợp chất này bằng các phƣơng pháp phân tích quang phổ [14].
Louveaux và cộng sự đã phát hiện 18 flavonoid (các dẫn xuất của caffeoyl, các quercetin glycoside, bao gồm rutin và các kaempferol glycoside) bằng sắc kí lỏng hiệu năng cao (HPLC) trong 4 phân đoạn dịch chiết xuất từ lá cây Bạch tật lê[10]. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Matin Yekta đã tách chiết 3 flavonoid glycoside bao gồm: Quercetin 3-O- glycoside, quercetin 3-O-rutinoside và kaempferol 3-O-glycoside từ các bộ phận trên mặt đất của cây Bạch tật lê[38]. Raja và Venkataraman đã xác định đƣợc các hợp chất flavonoid từ phân đoạn dịch chiết ether và chloroform của quả Bạch tật lêtƣơi từ Ấn Độ sử dụng hệ dung môi ethyl acetate : benzen (1:9). Trong khi đó các flavonoid này không đƣợc phát hiện trong dịch chiết của các loài quả khác [38, 44].
Wu đã phân tách và định danh ba hợp chất mới, terrestribisamide, 25R- spirost-4-en-3, 12-dione và tribulusterine, cùng với 10 hợp chất đã biết bao gồm: N- p coumaroyltyramine, terrestriamide, hecogenin, aurantiamide acetate, xanthosine, este axit béo, ferulicaxit, vanillin, axit p-hydroxybenzoic, và β-sitosterol từ quả Bạch tật lê khô [53]. Các alkaloid trong dịch chiết bao gồm harmane và norharmane. β -carboline alkaloid, tribulusterine chiếm một hàm lƣợng nhỏ trong quả cây [15]. Sử dụng sắc ký khí kết hợp khối phổ phân tích dịch chiết metanol của toàn bộ cây Bạch tật lêcho thấy α-amyrin là thành phần chính và 7 hợp chất với hàm lƣợng nhỏ hơn là 3,7,11,15-tetrametyl-2-hexadecen-1-ol, axit n-hexadecadienoic, axit hexadecadienoic este ethyl, phytol, 9,12-octadecadienoicaxit, axit 9,12,15- octadecatrienoic và 1,2-benzenedicarboxylicaxit disoctyl este.
Ngoài ra, sterol (β- sitosterols và stigmasterol) cũng đƣợc phát hiện [15]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các loại khung carbon của saponin spiroston trong Bạch tật lê [56]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các loại khung carbon của saponin furostane trong Bạch tật lê [56] Hình 1. Một số saponin chính có hoạt tính sinh học tách chiết từ Bạch tật lê [27]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cấu trúc hóa học của flavonoid tách chiết từ Bạch tật lê [56].
Cấu trúc của alkaloid tách chiết từ Bạch tật lê [56]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tác dụng dược lí của cây Bạch tật lê. Bạch tật lê đƣợc sử dụng trong các vị thuốc truyền thống nhƣ thuốc bổ, thuốc tăng cƣờng sinh lí, thuốc giảm nhẹ co thắt dạ dày, hạ huyết áp và lợi tiểu.
Quả Bạch tật lê khô rất có hiệu quả trong chữa trị hầu hết các rối loạn sinh dục và là một thành phần quan trọng của Ayurvedic - một loại thuốc đƣợc sử dụng để hỗ trợ chức năng sinh lí và tiêu hóa cũng nhƣ để loại bỏ độc tố do nƣớc tiểu. Bạch tật lê đã đƣợc sử dụng trong hàng thế kỷ ở Ayurveda để điều trị chứng bất lực, bệnh hoa liễu và khiếm khuyết sinh dục. Tại Bulgaria, chúng đƣợc sử dụng nhƣ một loại thuốc truyền thống để điều trị chứng bất lực. Ngoài tất cả các ứng dụng này, rễ và quả Bạch tật lê còn đƣợc sử dụng trong điều trị rối loạn tim mạch, các bệnh về mắt, phục hồi chức năng gan, nhuận tràng, giảm đau, lợi tiểu và làm thuốc bổ tại Trung Quốc và Ấn Độ [30].
Tác động lợi tiểu Các đặc tính lợi tiểu của cây Bạch tật lê là do một lƣợng lớn nitrat và tinh dầu có trong quả và hạt đồng thời cũng có thể là do sự có mặt của muối kali ở nồng độ cao. Ali và cộng sự đã nghiên cứu tác động lợi tiểu của dịch chiết từ quả và lá cây Bạch tật lê trên chuột với nồng độ uống là 5,0 g/kg.