phần mở đầu, kết luận và phụ lục luận văn có 2 chƣơng. TỪ NGUYÊN TÁCTHÁI CĂN ĐÀM(菜根譚) ĐẾN BẢN GIẢI ÂM CỦA HÒA THƢỢNG PHÚC ĐIỀN 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu bản giải âm tác phẩm “Thái căn đàm”của Hòa thượng Phúc Điền – Lê Quang Sơn 2. Tìm hiểu thân thế và sự nghiệp Hồng Tự Thành (洪自誠) - tác giả tác phẩm Thái căn đàm(菜根譚). Tìm hiểu thân thế và sự nghiệp Phúc Điền Hòa Thƣợng (福田和尚) - ngƣời dịch và thích nghĩa bằng chữ Nôm Thái căn đàm(菜根譚).
Cuộc đời của Hòa thƣợng Phúc Điền. Sự nghiệp hoằng dƣơng phật pháp của Hòa thƣợng Phúc Điền. Vấn đề văn bản Thái căn đàm (菜根譚). Bối cảnh xã hội giai đoạn phiên dịch và niên đại hoàn thành tác phẩm.
Bối cảnh xã hội giai đoạn phiên dịch tác phẩm. Niên đại hoàn thành tác phẩm. Mô tả các dị bản. Chọn bản để công bố.
TÌM HIỂU GIÁ TRỊ TÁC PHẨMTHÁI CĂN ĐÀM (菜根譚), VẤN ĐỀ DỊCH NÔM VÀ TIẾNG VIỆT CỦA HÒA THƢỢNG PHÚC ĐIỀN 2. Tìm hiểu giá trị nội dung của tác phẩm.Giá trị tƣ tƣởng triết lý Nho giáo.2 Giá trị tƣ tƣởng triết lý Phật giáo.3 Giá trị tƣ tƣởng triết lý Đạo giáo.Tìm hiểu giá trị văn tự ngôn ngữ: 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu bản giải âm tác phẩm “Thái căn đàm”của Hòa thượng Phúc Điền – Lê Quang Sơn 2. Cấu tạo chữ Nôm trong bản giải âm tác phẩm Thái căn đàmgiải âm(菜根譚解音)của Hòa thƣợng Phúc Điền. Đặc điểm chữ Nôm trong bản giải âm tác phẩm Thái căn đàmgiải âm(菜根譚解音)của Hòa thƣợng Phúc Điền.
Tiếng Việt trong bản giải âm tác phẩm Thái căn đàmgiải âm(菜根譚 解音)của Hòa thƣợng Phúc Điền. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. TỪ NGUYÊN TÁC THÁI CĂN ĐÀM (菜根譚) ĐẾN BẢN GIẢI ÂM CỦA HÒA THƢỢNG PHÚC ĐIỀN 1. Tìm hiểu thân thế và sự nghiệp Hồng Tự Thành (洪自誠) - tác giả tác phẩm Thái căn đàm (菜根譚).
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu bản giải âm tác phẩm “Thái căn đàm”của Hòa thượng Phúc Điền – Lê Quang Sơn Thái căn đàm(菜根譚)là một tác phẩm thể cách ngôn thời Minh(Trung Quốc), tác giả là Hồng Ứng Minh (洪應明) tự là Tự Thành (自誠). Hiện nay chúng ta có rất ít tƣ liệu về ông, ở tác phẩm Thái Căn Đàmnày cũng không ghi chép nhiều về tác giả, ngay cả những tƣ liệu của Trung Quốc cũng khôngcó nhiều tƣ liệu về Hồng Ứng Minh. Ngày nay, các học giả Trung Quốc nghiên cứu về những tác phẩm củaHồng Ứng Minh (洪應明) cũng rất nhiều, nhƣng cũng không biết đƣợc gì nhiều về ông. Trong bài nghiên cứu của nhà nghiên cứu Ngô Gia Câu (吳家 駒)cũng cho biết chỉ thông qua một số tƣ liệu còn lại của ông nhƣ tác phẩm Tiên Phật kỳ tích(仙佛奇踪 )để biết đƣợc những điều ít ỏi về Hồng Ứng Minh (洪應明).
Ở tác phẩm Tiên Phật kỳ tích phần tiểu dẫn của quyển đầu chỉ cho chúng ta biết đƣợc ông tên là Hồng Ứng Minh, tự là Tự Thành, hiệu là Hoàn Sơ đạo nhân. Từ trẻ đã theo nghiệp công danh quan trƣờng, về già thì quy ẩn sơn lâm tẩy tâm lễ Phật. Và ông cũng có mối giao hữu cùng với Ai Hoàngtự làLiễu Phàmlàm quan đến chức binh bộ chủ sự, và cùng với Phùng Mộng Trinhtự là Khai Chilàm chức Tế tửu của Nam quốc tử giám. Theo Lâm Gia Lệ trong phần khảo chứnh về Hồng Ứng Minh với Thái căn đàm ông cho rằng: - Thứ nhất, Hồng Ứng Minh là ngƣời Tân Đô Tứ Xuyên (nay là huyện Tân Đô) sau đến Nam Kinh làm quan và ở lại Nam Kinh.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu bản giải âm tác phẩm “Thái căn đàm”của Hòa thượng Phúc Điền – Lê Quang Sơn - Thứ hai, Hồng Ứng Minh có giao hữu với Ai Hoàng, Phùng Mộng Trinh, Vu Khổng Kiêm. Ai Hoàng và Phùng Mộng Trinh là tiền bối của Hồng Ứng Minh, còn Vu Khổng Kiêm (于孔兼)với Hồng Ứng Minh là bạn trang lứa. Ngoài ra, còn có ngƣời cho rằng Hồng Ứng Minh (洪應明) là ngƣời Kim Đàm, Giang Tô. Có 3 lý do: - Lý do thứ nhất là Hồng Ứng Minh ( 洪 應 明 ) nhờ ngƣời bạn là VuKhổng Khiêm viết bài tựa cho tác phẩm Thái căn đàm, mà Kim Đàm là quê của Vu Khổng Kiêm, và ông này từng làm quan đến chức Lễ bộ Nghị chế Lang trung, sau đó từ quan về quê ở 20 năm.
- Lý do thứ hai làtheo nhƣ lời nói của Phùng Mộng Trinh trong tác phẩm “Tiên Phật kỳ tích phần Tịch quang cảnh dẫn” thì Hồng Ứng Minh (洪應明) về già ở ẩn vui chốn yên tĩnh thiền định, mà núi Mao là một trong những cảnh ở Kim Đàm, đây chính là nơi rất tốt cho việc ở ẩn. - Lý do thứ ba là ngôn ngữ trong Thái Căn Đàmvà ngạn ngữ tục ngữ ở Kim Đàm gần giống nhau. - Cũng có căn cứ cho rằng khoảng năm thứ 30 niên hiệu Vạn lịch (1602), vào niên hiệu Hoằng Định thứ 2 đời vua Lê Kính Tông của nƣớc ta, ông ở dải sông Tần Hoài thuộc Nam Kinh, ở đây ông lắng lòng trƣớc thuật. Nói chung về con ngƣời và sự nghiệp của Hồng Ứng Minh (洪應明)còn chƣa rõ ràng, không rõ đƣợc quê quán và năm sinh năm mất của ông, nhƣ Ngô Gia Câu (吳家駒)một nhà nghiên cứu của Trung Quốc đã nói “推測華竟 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu bản giải âm tác phẩm “Thái căn đàm”của Hòa thượng Phúc Điền – Lê Quang Sơn 是推測,要真正确洪應明的籍貫,尚待文憲資料的进一步發現,或許, 這永遠是一个謎”。(Suy luận cuối cùng cũng chỉ là suy luận, thật sựchính xác về nguồn gốc của Hồng Ứng Minh còn đợi sự phát hiện về tư liệu văn hiến.
Hoặc giả, đây vĩnh viễn là một câu đố). Tìm hiểu thân thế và sự nghiệp Phúc Điền Hòa Thƣợng (福田和尚) Về tên gọi của Phúc Điền Hòa Thƣợng có nhiều thuyết khác nhau. Trƣớc đây, phần lớn đều cho rằng Hòa thƣợng Phúc Điền và Sa môn An Thiền là hai nhân vật khác nhau. Nhƣng qua những bài nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp Cử nhân và luận văn Thạc sĩ của những năm trƣớc nhƣ: - Luận văn Thạc sĩ“Tìm hiểu lịch sử Phật giáo Việt Nam qua bản Đạo giáo nguyên lưu của Hòa thượng Phúc Điền” của tác giả Thích Minh Tâm năm 1998.
- Luận văn Cử nhân “Bước đầu tìm hiểu tác phẩm Hộ Pháp Luận qua bản giải âm của Phúc Điền Hòa thượng” của tác giả Nguyễn Văn Thanh năm 2005. - Luận văn Thạc s “Nghiên cứu khảo sát văn bản Tại gia tu trì tam giáo nguyên lưu của Hòa thượng Phúc Điền” của tác giả Nguyễn Lê Sáu năm 2006. Các tác giả đã chứng minh và dẫn chứng đƣợc hai tên gọi Phúc Điền và An Thiền là một nhân vật. Những luận văn này đã chứng minh một cách cụ thể và rõ ràng, chính vì thế, ở luận văn này chúng tôi không đi sâu vấn đề này, và chúng tôi cũng thống nhất theo các cách lý giải của các tác giả luận văn trên.
Thân thế của Hòa thƣợng Phúc Điền 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu bản giải âm tác phẩm “Thái căn đàm”của Hòa thượng Phúc Điền – Lê Quang Sơn Hòa thƣợng Phúc Điền (福田和尚) pháp danh là An Thiền (安禪), cha Ngài họ Võ (武), mẹ họ Lê (黎). Ngài là ngƣời thôn Trƣờng Thịnh, xã Bạch Sam, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hòa (nay thuộc xã Trƣờng Thịnh, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội). Về ngày sinh của ngài thì không có tƣ liệu nào nói rõ, chỉ biết ngài sinh vào tháng 7 năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Hƣng năm 45 (1784) đời vua Lê Hiển Tông. Năm 12 tuổi, ngài xuất gia làm đệ tử của Hòa thƣợng Viên Quang Hải Tiềm chùa Đại Bi, xã Thịnh Liệt, Thanh Trì.
Ngài xuất gia đƣợc 3 năm thì tôn sƣ viên tịch, ngài theo hầu tổ Từ Phong Hải Quýnh chùa Phúc Xuân, xã Nam Dƣ, và ở đây ngài đƣợc tổ truyền trao cho giới Sa di. Đến năm 20 tuổi, ngài đƣợc Tổ sƣ Tịch Giảng Vô Tƣ, chùa Đại Thiền, xã Phù Ninh, tỉnh Bắc Ninh làm thầy Hòa thƣợng; Tổ sƣ Tịch Chiếu chùa Hoa Lâm, xã Khê Hồi làm thầy Yết Ma A Xà Lê; Tổ sƣ Tịch Tính chùa Sùng Phúc làm thầy giáo thụ. Tháng 5 năm Ất Mùi niên hiệu Minh Mệnh thứ 16 (1835), Hòa thƣợng vâng chỉ tới kinh đô Huế dự thi, mến mộ với tài học vấn và đức độ của ngài, nhà vua đã phong cho ngài Tăng Cang và cấp Giới đao Độ điệp. Trong thời gian này, Hòa thƣợng đã lƣu lại ở Huế và đã sƣu tầm, nghiên cứu lịch sử Phật giáo tại Huế cũng nhƣ các tỉnh miền Nam, chính vì thế Hòa thƣợng đã có đƣợc một hệ thống lịch sử Phật giáo Việt Nam mang tính hệ thống cao.
Cũng chính trong thời gian Hòa thƣợng lƣu lại tại Huế, một số nho sỹ tại đây đã theo ngài thụ giáo và làm đệ tử tục gia của ngài. Những Nho sĩ này đã chịu chịu ảnh hƣởng sâu sắc về tƣ tƣởng của Hòa thƣợng, và chính họ là những ngƣời sau này đã trở thành những đệ tử đắc lực giúp Hòa thƣợng trong công việc trƣớc tác và dịch thuật cũng nhƣ in ấn những tác phẩm Phật giáo. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu bản giải âm tác phẩm “Thái căn đàm”của Hòa thượng Phúc Điền – Lê Quang Sơn 1. Sự nghiệp hoằng dƣơng phật pháp của Hòa thƣợng Phúc Điền Hòa thƣợng là một trong những ngƣời không những đóng góp cho Phật giáo nói riêng và văn hóa của nƣớc nhà nói chung những tác phẩm trƣớc tác cũng nhƣ dịch thuật diễn Nôm vô cùng to lớn, mà Hòa thƣợng còn là ngƣời đã khai sáng và phát triển rất nhiều ngôi chùa to lớn để truyền tải văn hóa của dân tộc cũng nhƣ giáo lý của đức Phật.
Xây dựng và trùng tu chùa Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), Hòa thƣợng đƣợc mời về trùng tu và trụ trì chùa Đại Giác xã Bồ Sơn, huyện Quế Dƣơng, tỉnh Bắc Ninh(nay thuộc thôn Bồ Sơn, phƣờng Võ Cƣờng, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh). Tại đây, Hòa thƣợng đã viết và cho in rất nhiều sách trong những năm ngài trụ ở nơi đây. Sau đấy ngài còn khai hóa rất nhiều chùa ở các tỉnh miền Bắc nhƣ: - Chùa Đại Quang (1843) xã Phú Nhi, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây. - Chùa Liên Trì (1846) huyện Thọ Xƣơng, tỉnh Hà Nội.
- Chùa Liên Phái (1852) tỉnh Hà Nội(nay ở phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội). - Ngoài ra còn rất nhiều chùa đƣợc ngài lƣu lại dấu tích.