MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ quá mức và không bình thƣờng tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hƣởng tới sức khoẻ. Cùng với thừa cân- béo phì, các bệnh mãn tính nhƣ đái tháo đƣờng, tăng huyết áp, bệnh tim mạch và ung thƣ cũng gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây. Bệnh thừa cân- béo phì đang tăng lên rõ rệt và nhanh chóng không những ở các nƣớc phát triển mà còn ở những nƣớc đang phát triển.
Theo tổ chức Quốc tế theo dõi bệnh béo phì ( Internation Obesity Tast Force – IOTF) nghiên cứu, hiện nay trên thế giới đã có 64 triệu ngƣời thừa cân và mắc bệnh béo phì [3,9, 15, 16]. Các kết quả điều tra đƣợc tiến hành gàn đây cho thấy, Mỹ là nƣớc có số dân béo phì nhiều nhất trên thế giới với khoảng 60 triệu ngƣời bị béo phì. Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đƣờng Quốc tế (1991), tỷ lệ ngƣời thừa cân và béo phì ở 1 số nƣớc Châu Á nhƣ sau: Thái Lan 3,58%, Philipin 4,27%, Malaysia 3,01%, Nam Triều Tiên 2,08%, Đài Loan 1,6%, HongKong 3% [3,9,15]. Theo điều tra mới nhất của viện dinh dƣỡng cho thấy tình trạng thừa cân, béo phì ở Việt Nam đang tăng nhanh, trong đó tỷ lệ béo phì ở ngƣời trƣởng thành từ 25-64 tuổi, lên tới 16,8%[15, 9], điều này là do nền kinh tế nông nghiệp và đô thị hoá ở nƣớc ta đang phát triển kéo theo các vấn đề về môi trƣờng sinh thái và lối sống ăn uống không khoa học, nên căn bệnh béo phì và các bệnh liên quan nhƣ đái tháo đƣờng và tim mạch đang gia tăng mạnh trong những năm gần đây.
Hiện nay chi phí điều trị bệnh béo phì là rất tốn kém, ví dụ ở Hoa Kỳ trong năm 1997, chi phí cho điều trị bệnh béo phì là 47,6 tỷ đô la [3, 9, 15, 16]. Hơn nữa các loại thuốc tân dƣợc đƣợc dùng hiện nay tên thị trƣờng thƣờng gây nhiều phản ứng, và giá thành rất đắt. Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu các hợp chất tự nhiên từ cây cỏ để chữa bệnh béo phì và đái tháo đƣờng, các loại thuốc dƣợc liệu từ cây cỏ thƣờng ít gây ra tác dụng phụ, đồng thời tác dụng của thuốc có hiệu quả kéo dài [1, 4, 7]. Các nghiên cứu về dịch chiết hợp chất tự nhiên 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Đinh Hải Linh từ cây noni (Morinda citryfolia) có nhiều tác dụng tốt đối với trao đổi lipid – glucid và chống tổn thƣơng oxy hoá rất cao.
Vấn đề khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên có tác dụng chữa bệnh là một hƣớng mới không chỉ đối với nƣớc ta mà còn đối với các nƣớc khác trên thế giới. Trâm có tên khoa học là Syzygium spp thuộc họ Myrtaceace, là một loại cây quen thuộc với ngƣời Việt Nam, có nhiều công dụng chữa bệnh. Hiện tại ở Việt Nam, hƣớng nghiên cứu để điều trị bệnh béo phì và các biến chứng bệnh nan y khác có liên quan với béo phì chƣa có nhiều công trình khoa học quan tâm. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, Trâm có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu, gián tiếp ngăn ngừa béo phì và xơ cứng mạch máu [19].
Việc nghiên cứu, khảo sát về thành phần hóa học và tác dụng dƣợc lý của các loài thuốc có giá trị của Việt Nam nhằm đặt cơ sở khoa học cho việc sử dụng chúng một cách hợp lý, hiệu hạt quả có tầm quan trọng đặc biệt. Dựa trên các bài thuốc dân gian chữa bệnh ĐTĐ chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu hoạt tính hạ đƣờng huyết và mỡ máu của dịch chiết cây Trâm (Syzygium spp)” 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu đƣợc thực hiện với mục tiêu sau: - Tìm hiểu thành phần hóa học cơ bản của cây Trâm - Tìm hiểu tác dụng hạ đƣờng huyết và mỡ máu của một số phân đoạn dịch chiết cây Trâm trên mô hình chuột gây béo phì và ĐTĐ thực nghiệm typ 2. - Phân tích cấu trúc một số chất có tác dụng hạ đƣờng huyết và mỡ máu của dịch chiết cây Trâm trên mô hình chuột gây béo phì và ĐTĐ thực nghiệm typ 2.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Đinh Hải Linh CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC HỢP CHẤT THỨ SINH THỰC VẬT 1. Đặc điểm chung và phân loại [8, 11] Trong tự nhiên, các hợp chất thứ sinh phân bố rất phổ biến trong thực vật, chúng thƣờng tồn tại dƣới dạng glycosid dễ tan trong nƣớc và tập trung ở các không bào.
Các chất phenolic chiếm một vị trí quan trọng trong dời sống thực vật, chúng tham gia vào nhiều quá trình sinh lí và sinh hóa quan trọng nhƣ: điều hòa các quá trình trao đổi chất dƣới những hình thức khác nhau, tham gia vào quá trính hô hấp nhƣ vận chuyển H+ trong quá trình phoshoryl hóa oxy hóa…. Cơ thể thực vật tích lũy các chất phenolic với lƣợng lớn, một số chất trong nhóm này đã đƣợc hiểu rõ về chức năng sinh học: lignin là vật liệu cấu tạo màng tế bào thực vật, các flavonoid tạo nên màu sắc tự nhiên của hoa, hạt quả, vỏ, vẩy… Động vật không tự tổng hợp đƣợc các chất phenolic, các chất cần thiết đƣợc bổ sung qua nguồn thức ăn. Terpen thực vật Terpen là nhóm hydrocacbon thực vật lớn và đa dạng nhất, đƣợc hình thành từ quá trình polymer hoá các đơn vị isopren (C5H8), có công thức cấu tạo chung là (C5H8)n. Khung cacbon của terpen có ít nhất hai đơn vị isopren nối thành một mạch hở hoặc một mạch kín có một hoặc vài vòng.
Trong thực vật, terpen đƣợc tổng hợp qua con đƣờng trao đổi chất acetate/mevanolate hoặc con đƣờng glyceraldehyde-3- phosphate/pyruvate. Hầu hết các terpen đều có bản chất là hydratcarbon, tuy nhiên chúng có thể bị khử hoặc bị oxy hoá để hình thành các hợp chất terpenoid khác nhƣ alcohol, ketone, acid và aldehyde. Vì vậy, một số tác giả sử dụng thuật ngữ “terpen” để chỉ chung một nhóm lớn các hợp chất bao gồm cả terpen và terpenoid [11]. Tinh dầu, carotenoid, nhựa, cao su đều thuộc terpen.
Chúng đƣợc tìm thấy trong những cơ quan riêng biệt của thực vật nhƣ trong ống nhựa của cây lá kim, trong tế bào tiết của một số họ Hạt kín (họ Hoa môi, Hoa tán, họ Sim…). 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Đinh Hải Linh Các Terpen đều không tan trong nƣớc nhƣng lại tan trong các dung môi hữu cơ không hoặc ít phân cực nhƣ benzen, chloroform, n-hexan. Terpen thƣờng có mùi thơm nên đƣợc con ngƣời sử dụng nhiều trong công nghệ hƣơng liệu, xà phòng, mỹ phẩm, trong công nghiệp thực phẩm để sản xuất bánh kẹo và nƣớc uống…. Một số hợp chất thuộc nhóm terpen 1.
Tannin Tannin là các hợp chất phenolic có trọng lƣợng phân tử cao dao động, trong phân tử có chứa các nhóm hidroxyl và các nhóm chức khác, có khả năng tạo phức với protein và các phân tử lớp khác trong điều kiện môi trƣờng đặc biệt. Tannin thƣờng là các hợp chất vô định hình, có màu trắng, màu vàng nhạt hoặc gần nhƣ không có màu, có hoạt tính quang học, vị chát, dễ oxy hoá khi đun nóng hay khi để ngoài ánh sáng. Tannin tan nhiều trong nƣớc (tốt nhất là trong nƣớc nóng), tan trong các dung môi hữu cơ nhƣ ethanol; hoà tan một phần trong axetone, ethylacetat và hầu nhƣ không tan trong các dung môi kém phân cực nhƣ chloroform, benzene … Tác dụng sinh học của tannin là chất bảo vệ cây trồng trƣớc sự tấn công của vi sinh vật gây bệnh và côn trùng ăn lá. Trong y học, tannin đƣợc sử dụng làm thuốc cầm máu, chữa đi ngoài, ngộ độc kim loại nặng, chữa trĩ, viêm miệng, viêm xoang, điều trị cao huyết áp và đột quỵ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Đinh Hải Linh Hình 2.
Cấu trúc hoá học của tannin 1. Hợp chất coumarin Coumarin là các dẫn chất của α–pyrone có cấu trúc C6-C3, dị vòng chứa oxy và có nhiều loại cây. Coumarin là những chất kết tinh không màu, hoặc màu vàng nhạt, vị đắng, có mùi thơm giống mùi thơm của valinin. Trong cây, coumarin tồn tại ở dạng aglycon tan nhiều trong các dung môi hữu cơ kém phân cực hoặc ở dạng kết hợp với glucose tạo thành glycoside dễ tan trong nƣớc.
Hiện nay đã tìm thấy hơn 1500 loại coumarin khác nhau tồn tại trong hơn 800 loài thực vật trong tự nhiên. Coumarin là một trong những chất “phòng thủ hoá học hữu hiệu” của cây giúp chống lại bất lợi của môi trƣờng. Trong đời sống, coumarin đƣợc sử dụng làm nƣớc hoa, hƣơng liệu, diệt các loài gặm nhấm. Trong y học, coumarin đƣợc dùng làm chất chống co thắt, làm giãn nở dộng mạch vàng, làm bền và bảo vệ thành mạch.
Nhiều coumarin có tính kháng khuẩn, kháng viêm, kháng nấm, kháng khối u, trừ giun sán, giảm đau và hạ nhiệt. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Đinh Hải Linh Hình 3. Khung cấu trúc của coumarin 1. Alkaloid thực vật Alkaloid là môtỵ nhóm hợp chất bao gồm những hợp chất hữu cơ có chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng, có phản ứng kiềm, thƣờng gặp ở thực vật, có hoạt tính sinh học mạnh và cho phản ứng hoá học với một số loại thuốc thử.
Hiện nay, hơn 6000 loại alkaloid khác nhau đƣợc phân lập. Hầu hết chúng có trong thực vật, khoảng 1% trong động vật và 0.5% trong nấm và vi khuẩn. Các nhà khoa học thấy một điều thú vị là alkaloid rất có thể là một tiêu chí để phân loại thực vật khi có tới 20000 chi thực vật nhƣng chỉ khoảng 9% là chứa alkaloid. sự phân bố alkaloid trong các loài thực vật cũng rất khác nhau.
Alkaloid hiếm gặp ở cây hạt trần và dƣơng xỉ, thƣờng gặp ở thực vật có hoa, chủ yếu ở cây hai lá mầm (đặc biệt là ở họ Cà, họ Thuốc Phiện, họ Cao Lƣơng, họ Trúc Đào …). Có những họ thực vật mà tất cả các loại đều chứa alkaloid. Alkaloid có thể có trong tất cả các bộ phận của cây nhƣ rễ, thân, lá, vỏ, quả, hạt (cây Papaver somniferum), cũng có thể chỉ có trong một hoặc một số bộ phận nhất định (alkaloid của Aphenlandra squarosa chỉ có ở rễ). Trong cây, alkaloid tồn tại dƣới 3 dạng: dạng tự do, dạng muối của các axit phổ biến nhƣ citric, lactic, oxalic, axetic, malic … và dạng oxi nitơ.
Đa số alkaloid không có mùi, có vị đắng, một số ít có vị cay; ở dạng rắn alkaloid thƣờng có màu trắng, một vài chất có màu vàng (berberin, palmatin). Alkaloid là nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh.