Nghiên cứu tác động của nọc bò cạp trong y sinh - Luận văn tốt nghiệp của Hoàng Mỹ Quỳnh Trang

Chuyên khảo phân tích Kl hoang my huynh trang, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Đại học Tôn Đức Thắng

Chuyên ngành

Y Sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2012

67
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. GIỚI THIỆU VỀ BÒ CẠP

1.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG NỌC BÒ CẠP TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.3. SẮC KÍ LỌC GEL PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN PROTEIN

1.4. SẮC KÍ LỎNG CAO ÁP (HPLC)

1.5. KHẢO SÁT TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HOẠT CHẤT NỌC BÒ CẠP LÊN QUÁ TRÌNH ĐỘNG CẦM MÁU

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. THIẾT BỊ THU NỌC BÒ CẠP

2.2. SẮC KÍ LỌC GEL SEPHADEX G 50 CỦA NỌC BÒ CẠP

2.3. SẮC KÝ LỎNG CAO ÁP TRÊN CỘT C18 PHÂN ĐOẠN 5

2.4. KHẢO SÁT TÁC ĐỘNG CHỐNG ĐÔNG MÁU CỦA CÁC PHÂN ĐOẠN THỨ CẤP

2.5. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THỐNG KÊ

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. KẾT QUẢ CHẠY SẮC KÍ LỌC GEL

3.2. KẾT QUẢ CHẠY SẮC KÍ LỎNG CAO ÁP TRÊN CỘT C18 CỦA PHÂN ĐOẠN 5

3.3. KHẢO SÁT TÁC ĐỘNG CỦA CÁC PHÂN ĐOẠN THỨ CẤP CỦA PHÂN ĐOẠN 5 LÊN QUÁ TRÌNH ĐÔNG CẦM MÁU

3.3.1. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.1 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.2. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.2 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.3. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.3 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.4. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.4 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.5. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.5 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.6. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.6 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.7. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.7 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.8. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.8 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.9. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.9 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.10. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.10 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.11. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.11 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.12. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.12 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.13. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.13 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.14. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.14 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.15. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.15 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.16. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.16 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.17. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.17 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.18. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.18 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.19. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.19 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.20. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.20 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.21. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.21 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.22. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.22 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.23. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.23 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.3.24. Ảnh hưởng của phân đoạn 5.24 lên thời gian chảy máu và đông máu

3.4. BẢNG TỔNG KẾT CÁC PHÂN ĐOẠN THỨ CẤP CÓ HOẠT TÍNH SO VỚI LÔ CHỨNG

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nọc bò cạp trong y sinh và tác động sinh học

Nọc bò cạp đã được nghiên cứu và ứng dụng trong y sinh từ lâu. Nọc bò cạp chứa nhiều thành phần có hoạt tính sinh học, đặc biệt là các polypeptide toxin. Những thành phần này có khả năng tác động lên hệ thần kinh và quá trình đông cầm máu. Nghiên cứu cho thấy nọc bò cạp có thể được sử dụng để điều trị nhiều bệnh lý nghiêm trọng như ung thư, Parkinson và các bệnh tự miễn. Việc tìm hiểu sâu về nọc bò cạp không chỉ giúp phát triển các loại thuốc mới mà còn mở ra hướng đi mới trong y học hiện đại.

1.1. Nọc bò cạp và các thành phần hoạt tính sinh học

Nọc bò cạp chứa nhiều polypeptide toxin có tác dụng lên các kênh ion và receptor của tế bào. Các thành phần này có thể được chia thành nhiều loại khác nhau, mỗi loại có tác dụng riêng biệt. Nghiên cứu cho thấy nọc bò cạp có khả năng kháng viêm và giảm đau, mở ra tiềm năng trong điều trị các bệnh lý khác nhau.

1.2. Lịch sử nghiên cứu nọc bò cạp trong y học

Nọc bò cạp đã được sử dụng trong y học cổ truyền từ hàng ngàn năm. Nhiều nghiên cứu hiện đại đã chỉ ra rằng nọc bò cạp có thể được ứng dụng trong điều trị các bệnh hiểm nghèo. Các nhà khoa học đang tiếp tục khám phá tiềm năng của nọc bò cạp trong việc phát triển thuốc mới.

II. Thách thức trong nghiên cứu nọc bò cạp và ứng dụng y sinh

Mặc dù nọc bò cạp có nhiều tiềm năng trong y sinh, nhưng việc nghiên cứu và ứng dụng vẫn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn là việc thu thập và xử lý nọc bò cạp một cách an toàn và hiệu quả. Ngoài ra, việc xác định chính xác các thành phần hoạt tính và tác dụng của chúng cũng là một thách thức lớn trong nghiên cứu.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập nọc bò cạp

Việc thu thập nọc bò cạp đòi hỏi kỹ thuật và trang thiết bị chuyên dụng. Nọc bò cạp có thể gây nguy hiểm nếu không được xử lý đúng cách. Do đó, cần có các biện pháp an toàn trong quá trình thu thập và bảo quản.

2.2. Thách thức trong việc xác định thành phần hoạt tính

Xác định các thành phần hoạt tính trong nọc bò cạp là một quá trình phức tạp. Các phương pháp phân tích hiện đại như sắc ký lỏng cao áp (HPLC) cần được áp dụng để tách và xác định các thành phần này một cách chính xác.

III. Phương pháp nghiên cứu nọc bò cạp trong y sinh

Để nghiên cứu tác động của nọc bò cạp, nhiều phương pháp hiện đại đã được áp dụng. Sắc ký lọc gel và sắc ký lỏng cao áp là hai phương pháp phổ biến nhất. Những phương pháp này giúp tách và phân tích các thành phần trong nọc bò cạp, từ đó xác định được tác dụng của chúng đối với sức khỏe con người.

3.1. Sắc ký lọc gel trong phân tích nọc bò cạp

Sắc ký lọc gel là phương pháp tách dựa trên kích thước phân tử. Phương pháp này cho phép phân tách các thành phần trong nọc bò cạp theo kích thước, giúp xác định các polypeptide toxin có hoạt tính sinh học.

3.2. Sắc ký lỏng cao áp HPLC trong nghiên cứu nọc bò cạp

Sắc ký lỏng cao áp (HPLC) là một kỹ thuật phân tích mạnh mẽ, cho phép tách và xác định các thành phần trong nọc bò cạp với độ chính xác cao. Phương pháp này đã được sử dụng để nghiên cứu các phân đoạn có tác dụng chống đông máu từ nọc bò cạp.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nọc bò cạp trong điều trị bệnh

Nọc bò cạp đã được chứng minh có nhiều ứng dụng trong điều trị bệnh. Các nghiên cứu cho thấy nọc bò cạp có thể được sử dụng để điều trị các bệnh như ung thư, Parkinson và các bệnh tự miễn. Những ứng dụng này không chỉ mang lại hy vọng cho bệnh nhân mà còn mở ra hướng đi mới trong y học.

4.1. Nọc bò cạp trong điều trị ung thư

Nọc bò cạp chứa các thành phần có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số toxin trong nọc bò cạp có thể làm giảm kích thước khối u và ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư.

4.2. Nọc bò cạp trong điều trị bệnh Parkinson

Nọc bò cạp có thể giúp cải thiện triệu chứng của bệnh Parkinson thông qua tác dụng lên hệ thần kinh. Các nghiên cứu đang được tiến hành để xác định cơ chế tác động và hiệu quả của nọc bò cạp trong điều trị bệnh này.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu nọc bò cạp

Nghiên cứu về nọc bò cạp trong y sinh đang mở ra nhiều cơ hội mới. Với những thành tựu đã đạt được, nọc bò cạp có thể trở thành nguồn nguyên liệu quý giá trong phát triển thuốc. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để khai thác tối đa tiềm năng của nọc bò cạp trong y học.

5.1. Tương lai của nghiên cứu nọc bò cạp

Nghiên cứu về nọc bò cạp sẽ tiếp tục được mở rộng, với mục tiêu phát triển các loại thuốc mới. Các nhà khoa học đang tìm kiếm các phương pháp mới để khai thác tiềm năng của nọc bò cạp trong điều trị bệnh.

5.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Cần có sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu, bác sĩ và các tổ chức y tế để thúc đẩy nghiên cứu về nọc bò cạp. Việc chia sẻ thông tin và kết quả nghiên cứu sẽ giúp tăng cường hiệu quả trong việc phát triển thuốc từ nọc bò cạp.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU VỀ BÒ CẠP: Bò cạp là loài động vật chân khớp đã có từ lâu đời trên thế giới, qua 450 triệu năm tiến hóa, bò cạp không thay đổi nhiều về hình dạng, chỉ là kích thước nhỏ hơn trước. Bò cạp không chỉ thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học bởi đặc điểm hình thái học, tính đa dạng loài, phương tiện sinh thái nguồn gốc cổ xưa mà còn ở các thành phần có hoạt tính sinh học trong nọc độc của chúng [19].1: Bò cạp đen Heterometrus laoticus. Phân bố địa lý: Bò cạp có thể gặp ở mọi miền địa lý trên thế giới, thường xuất hiện ở những vùng ôn đới và nhiệt đới, khoảng 50 độ Nam và Bắc bán cầu.

Chúng sống trong rừng, sa mạc, trong hang và vài loài còn được tìm thấy dưới các tảng đá ở những núi có độ cao 5000 m [3]. Ở Việt Nam bò cạp phân bố khắp nơi trong nước từ đồng bằng đến miền núi trong những khu rừng ẩm ướt và cả hải đảo. Đã phát hiện có bốn họ, đó là: Buthidae , Scorpionidae , họ Chaerilidae và họ Pseudochactidae , trong đó họ Buthidae và Scorpionidae chiếm nhiều nhất. Chúng phân bố như sau: [2, 13, 24] Họ Buthidae: • Lychas mucronatus Fabricius: phân bố ở các tỉnh miền Trung và miền Nam, phát triển mạnh về số lượng cá thể ở Đồng Phú (Bình Phước).

• Isometrus basilicus Karch: phân bố ở các tỉnh Nghệ An, Quảng Trị, Bình Định, Khánh Hoà (Trường Sa), Bình Phước (Đồng Phú). SVTH: Hoàng Mỹ Quỳnh Trang Luận văn tốt nghiệp Đại học • Isometrus sp: phân bố ở Nghệ An (Vinh). • Isometrus deharvengi sp: phân bố ở Hòn Chồng, Kiên Giang. Họ Scorpionidae: • Heterometrus spinifer spinifer: phân bố ở Bình Phước (Bù Đốp, Bù Gia Mập, Đồng Phú).

• Heterometrus petersii petersii: ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Khánh Hoà, Gia Lai, Lâm Đồng, Quảng Ninh. • Heterometrus laoticus Couzijn: ở Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai (Biên Hoà), An Giang. • Heterometrus cyaneus cyaneus: phân bố ở Thừa Thiên Huế, Quảng Trị. • Heterometrus sp: phân bố ở Sơn La (Mộc Châu), Hà Tây (Ba Vì).

Họ Chaerilidae: • Chaerilus petrzelkai: ở miền nam Việt Nam, đảo Côn Sơn. • Chaerilus Simon, 1877: ở miền Nam Việt Nam. • Chaerilus vietnamicus Lourenco and Zhu, 2008 phân bố ở miền Bắc. • Chaerilus julietteae Lourenco: 2011 phân bố ở miền Nam.

• Chaerilus phami sp: tập trung ở đảo Côn Sơn. Họ Pseudochactidae: • Vietbocap canhi Lourenco & Pham, 2010.canhi Lourenco & Pham, 2010. thienduongensis Lourenco & Pham, 2012. Cả 3 loài này đều được phát hiện ở động Thiên Đường, Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc tỉnh Quảng Bình.

Trong đề tài này chúng tôi đề cập đến loài bò cạp đen Heterometrus laoticus phân bố ở An Giang. Bò cạp Heterometrus laoticus còn gọi là bò cạp đen hay bò cạp rừng , chúng hầu hết được tìm thấy ở vùng Nam Bộ. Cơ thể có màu đen hoặc xanh đen, chiều dài trung bình khoảng 10-12 cm [20].2 Nọc độc bò cạp: Là nguồn giàu các chất có hoạt tính sinh học tác dụng trên hệ thống thần kinh và quá trình đông cầm máu [11, 20]. SVTH: Hoàng Mỹ Quỳnh Trang Luận văn tốt nghiệp Đại học Nọc bò cạp chứa các polypeptide toxin tác dụng với các receptor và các kênh ion.

Ngoài các toxin nọc bò cạp còn chứa các thành phần hoạt tính sinh học khác nhau như: enzyme, nucleotide, lipides, mucoproteins, biogenic amines, và cả các thành phần chưa biết [4, 19]. Những hoạt chất được nghiên cứu nhiều nhất trong nọc bò cạp là các neurotoxin, chúng tác dụng lên các receptor và các kênh ion của các màng tế bào bị kích thích. Phụ thuộc vào tác dụng của các toxin với các kênh ion, người ta chia chúng làm 4 loại, đó là các toxin tác dụng với các kênh ion: kênh Na+, kênh K+, kênh Cl-, kênh Ca2+[4, 20]. • Các toxin tác dụng với các kênh Na+ thường cấu tạo từ 60 – 76 gốc axit amin và cấu trúc của chúng được ổn định bởi bốn cầu disulfisd [4, 20].

• Trong khi đó các toxin tác dụng với các kênh K+ thường cấu tạo từ khoảng 31 – 39 gốc axit amin và cấu trúc của chúng được ổn định nhờ ba hoặc bốn cầu disulfid [4, 20]. • Xác định được hai peptide khác của nọc bò cạp thay đổi sự liên kết của ryanodine với kênh Ca2+, một loại làm tăng sự liên kết của ryanodine và kênh Ca2+ , loại kia lại ức chế sự liên kết [4, 20]. • Toxin tác dụng với kênh Cl- là peptide cấu tạo từ 36 gốc axit amine với bốn cầu disulfid [4, 20]. Nọc bò cạp đã được chứng minh có tác dụng kháng viêm giảm đau và nghiên cứu gần đây đã cho thấy nó có tác dụng lên quá trình đông cầm máu.

Từ ít nhất là sáu họ riêng biệt của bò cạp: Buthidae, Caraboctonidae, Iuridae, Ischnuridae, Scorpionidae và Vejovidae được biết là chứa peptide hoạt tính dược lý và một số protein tham gia vào quá trình đông cầm máu [11]. Trong bài luận văn này, đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi là bò cạp Heterometrus laoticus đã được khảo sát có độc tính cấp đối với động vật và có thành phần chống đông máu. NHỮNG NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG NỌC BÒ CẠP TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM: 1. Trên thế giới: SVTH: Hoàng Mỹ Quỳnh Trang Luận văn tốt nghiệp Đại học Trong khi cấu trúc bậc một của các toxin nọc bò cạp rất khác nhau thì cấu trúc không gian của chúng rất giống nhau.

Trừ cấu trúc không gian của các toxin tác dụng lên kênh Ca2+ là chưa biết, còn tất cả các peptide toxin bò cạp đều có lõi cấu trúc bảo thủ [4]. Các toxin ngắn của nọc bò cạp thường có cấu trúc bậc hai gồm một alpha spiral và hai nhánh đối song song của cấu trúc beta, giữa cấu trúc alpha và beta được cố định bằng hai cầu disulfid còn cầu disulfid thứ ba gắn đầu N với đầu cuối C của peptide. Các toxin này thường tác dụng với kênh K+ [10].2: Cấu trúc toxin ngắn của nọc bò cạp Còn cấu trúc không gian của toxin dài gồm một apha spiral và ba nhánh đối song song của cấu trúc beta, trong cấu trúc này có bốn cầu disulfid. Ngoại trừ với qui luật này là cấu trúc của insectoxin tách từ nọc bò cạp Hotentotta judaicus, ở đó có hai đoạn alpha spiral thay vì một đoạn ở các toxin bò cạp khác.

Các toxin này thường tác dụng với các kênh Na+ [10].3: Cấu trúc toxin dài của nọc bò cạp Hiện nay trên cơ sở các toxin nọc bò cạp người ta đã chế ra nhiều loại thuốc chữa các bệnh hiểm nghèo như ung thư. Margatoxin tách từ nọc bò cạp SVTH: Hoàng Mỹ Quỳnh Trang Luận văn tốt nghiệp Đại học Centruroides margaritatus đã được hãng Merck (Đức) đăng kí bản quyền như thuốc để điều trị bệnh tự miễn dịch và chống sự loại bỏ trong quá trình ghép các cơ quan của cơ thể. Chlorotoxin tách từ nọc bò cạp Leiurus quinquestritus đã được sử dụng để điều trị bệnh ung thư não. Chế phẩm “Escozul” sản xuất từ nọc Rhppalurus junceus được sử dụng ở Cuba để điều trị các bệnh ung thư và Pakingson.

Sự thay đổi cấu trúc bậc một của toxin bò cạp có thể sử dụng để chế tạo ra những loại thuốc mới với những hoạt tính riêng. Như nghiên cứu cấu trúc của Charybdotoxin đã mở ra khả năng sản xuất những protein nhỏ nhưng ổn định có những hoạt tính mới trong y dược [7, 19]. Nọc độc bò cạp còn có tính kháng khuẩn và kháng nấm, vì vậy cũng có thể dùng làm thuốc trị các bệnh do vi khuẩn và nấm gây nên [19]. Thành tựu của y học Cuba là thuốc điều trị ung thư Vidatox đã mang đến cho bệnh nhân ung thư một hi vọng mới.

Vidatox được bào chế từ nọc bò cạp xanh, với tên khoa học Rophalorus Junceus, có tính kháng tế bào ung thư và kháng viêm rất cao. Dưới tác động của chất này, nó làm cho khối u không phát triển được do bị ngăn chặn sự nuôi dưỡng từ mạch máu, ngoài ra nó còn đưa đến các chất gây miễn dịch tại khối u này [12]. Ở Việt Nam: Người ta đã nghiên cứu tính chất và thành phần ở một số loài bò cạp Việt Nam như Lychas mucronatus, Heterometrus laoticus [17, 18 -20, 22]. Từ nọc bò cạp nâu Lychas mucronatus người ta đã tách được một glycoprotein có hoạt tính lectin và bảy toxin ngắn này nằm trong khoảng 3.0 kDa, đã khảo sát tác dụng của chúng lên myelin thần kinh [17, 18].

Trong số những toxin đó đã xác định được trình tự acid amin cùa neurotoxin 14. Ngoài ra, người ta đã xác định độc tính cấp và tác dụng kháng viêm giảm đau của nọc bò cạp này. Đối với nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus người ta đã khảo sát thành phần protein và dược tính của nó. Từ đó người ta xác định nó chứa các thành phần độc với động vật và độc với côn trùng, nọc toàn phần có tác động kháng viêm, giảm đau [26, 27].

Ngoài ra những nghiên cứu này cho thấy nọc bò cạp H. laoticus còn SVTH: Hoàng Mỹ Quỳnh Trang Luận văn tốt nghiệp Đại học chứa các thành phần tác động lên quá trình đông cầm máu, đó là một hoạt tính mới của nọc bò cạp [11]. Những nghiên cứu trước đây về tác động chống đông máu của 5 phân đoạn được tách ra từ nọc bò cạp H.laoticus, bằng sắc ký lọc gel, cho thấy có 3 phân đoạn đó là 2, 4 và 5 có tác động chống đông máu [29]. Vì thế, để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, chúng tôi đã tiến hành tách phân đoạn 5 bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp đảo pha và khảo sát tác dụng chống đông máu của các phân đoạn thứ cấp của nó.3 SẮC KÍ LỌC GEL PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN PROTEIN: 1.1 Giới thiệu về sắc ký lọc gel: Sắc kí lọc gel (sắc kí rây phân tử) là phương pháp tách dựa trên sự khác nhau về kích thước phân tử của các chất.

Một số vật liệu rắn xốp có khả năng tạo ra bộ khung gel hay rây phân tử khi gặp dung môi tách. Pha tĩnh trong sắc kí lọc gel là dung môi trong các lỗ của hạt gel, còn pha động chính là dung môi chạy qua. Nói cách khác pha động và pha tĩnh đều cùng là một dung môi hay hỗn hợp dung môi tách [28]. Khi dung dịch cần phân tích đi qua bộ khung gel hay rây phân tử do có kích thước phân tử khác nhau nên sẽ có khả năng khác nhau khi qua gel.

Các phân tử có kích thước lớn hơn kích thước lỗ gel không bị hấp phụ lên gel mà chỉ có khuếch tán giữa các khe hở của các hạt gel.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ