CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Lược khảo các công trình nghiên cứu quốc tế 1. Các nghiên cứu về vai trò của cơ cấu thu nhập đối với hoạt động các của NHTM Trong hai thập kỷ qua dòng nghiên cứu điều tra sự kết hợp giữa các hoạt động ngân hàng truyền thống và phi truyền thống đã có sự gia tăng đang kể với nhiều hướng tiếp cận đa dạng với kết quả trái ngược nhau. Các tài liệu hiện có chủ yếu dựa trên các nghiên cứu đối với các ngân hàng tại Mỹ và một loạt các ngân hàng Châu Âu, chủ yếu tập trung vào các lợi ích đa dạng hóa thu nhập là lý do chính tại sao các ngân hàng tham gia vào phạm vi hoạt động rộng hơn.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này đã cung cấp các kết quả khác nhau. Trong khi Boyd (1980), Kwast (1989), Stiroh (2006) đã chỉ ra những lợiiích đáng kể bởi việc chuyển đổi cơ cấu thu nhập sang các hoạt động phi truyền thống, trong khi những nghiên cứu khác lại tập trung về các tác động của đa dạng hoá thu nhập đối với sự ổn định và chính sách ngân hàng (Edwards và Mishkin, 1995; Lui, 2012). Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu khác đã cho rằng không có lợi hoặc thậm chí tăng rủi ro khi các ngân hàng kết hợp các hoạt động truyền thống và phi truyền thống (Stiroh và Rumble, 2006; Demsetz và Strahan, 1997; Boyd và Graham, 1988). Lepetit và cộng sự (2008) nghiên cứu mối quan hệ giữa rủiiro ngân hàng và đa dạng hóa thu nhập trong sự thay đổi cơ cấu của ngành ngân hàng Châu Âu.
Dựa trên dữ liệu các NHTM tại Châu Âu giai đoạn từ 1996 đến 2002, nghiên cứu cho thấy các ngân hàng có xu hướng mở rộng sang các hoạt động thu nhập phi tín dụng có rủi ro hoạt động và rủi ro thanh khoản cao hơn so với các ngân hàng chủ yếu dựa vào hoạt động choivayitruyền thống. Tuy nhiên, xét ảnh hưởng quy mô và việc tách các hoạt động ngoài lãi thành các hoạt động giao dịch và hoạt động hoa hồng và phí, kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ tích cực với rủi ro, chủ yếu là đối với các ngân hàng nhỏ và về cơ bản được thúc đẩy bởi các nguồn thu từ hoa hồng và phí. 9 Jaffar và cộng sự (2014) nhận định ngành ngân hàng ở Anh đã dần dần chuyển từ vai trò trung gian tài chính truyền thống sang việc ngày càng dựa vào các HĐKD phiitruyềnithống tạo ra thu nhập từ phí, lợi nhuận từ giao dịch và các loại thu nhập phi lãi suất khác. Sử dụng tập dữ liệu của các Ngân hàng lớn của Anh trong giai đoạn từ năm 1986 đến 2012, nghiên cứu này điều tra những thay đổi trong cơ cấu thu nhập ngân hàng do bãi bỏ quy định năm 1986 và chỉ ra ảnh hưởng của những thay đổi này đối với rủi ro cho hệ thống.
Trên một phân tích vi mô, các ngân hàng lớn hơn có nhiều khả năng duy trì mức thu nhập phi tín dụng cao hơn. Busch và Kick (2015) cho thấy rằng các NHTM gây ra rủi ro cao hơn khi mở rộng cơ cấu thu nhập tăng tỷ trọng hoạt động thu phí của các ngân hàng tại Đức giai đoạn 1995-2011. Nghiên cứu cũng chứng minh việc các ngân hàng mở rộng sang hoạt động thu phí dịch vụ sẽ có biên lãi suất thấp hơn. Maudos (2016) sử dụng dữ liệu các NHTM tại Châu Âu giai đoạn từ 2002-2012 để phân tích vai trò của cơ cấu thu nhập đến hoạt động củaiNHTM.
Kết quả nghiên cứu cho rằng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng gia tăng làm tỷ suất lợi nhuận tài chính giảm, điều này cũng đóng vai trò là động lực để tìm kiếm các nguồn thu nhập khác. Belguith và Bellouma (2017) phân tích mốiiquan hệ giữa cơ cấu thu nhập đối với sự ổn định và hiệu quả hoạt động ngân hàng của các ngân hàng tại Tunisia trong giai đoạn 2001 đến 2014. Nghiên cứu thấy rằng chuyển đổi cơ cấu thu nhập từ thu nhập lãi thuần sang thu nhập phi tín dụng sẽ tăng lợi nhuận và sự ổn định của các NHTM. Phát hiện từ nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng lợi ích từ đa dạng hóa là lớn nhất đối với các ngân hàng có nhiều hoạt động để chuyển dịch sang các ngành kinh doanh phi truyền thống trong khi không có lợi đối với các ngân hàng theo đuổi chiến lược bán chéo dịch vụ tài chính.
Các nghiên cứu về tác động của đa dạng hoá thu nhập đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Các tài liệu tài liệu đa dạng hóa ngân hàng trong giai đoạn những năm 1980- 1990 cho rằng đa dạng hóa làm tăng cả khả năng sinh lời và ổn định (Boyd và Graham, 1988; Rose, 1989; Berger và cộng sự, 1999). Có thể đạt được điều này bằng cách mở 10 rộng hoạt động trên các sản phẩm và dịch vụ khác nhau cũng như về mặt địa lý. Các nghiên cứu về việc đa dạng hóa thu nhập giữa các ngân hàng tại Mỹ và Châu Âu nói chung đã liên quan đến cấu trúc thu nhập phi tín dụng của NHTM. Đa dạng hóa thu nhập tác động tiêu cực đối với rủi ro lợi nhuận của các ngân hàng Mỹ (DeYoung và Roland, 2001; Stiroh, 2004).
Trong khi đó, đa dạng hóa lại tăng cường mức độ rủi ro lợi nhuận của các ngân hàng Châu Âu ( Chiorazzo và cộng sự, 2008; Baele và cộng sự, 2007). DeYoung và Rice (2004) đã phân tích tác động của thu nhập phi tín dụng đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng Mỹ cho rằng mặc dù đa dạng hóa thu nhập thúc đẩy tăng lợi nhuận, một chiến lược thực hiện đa dạng hóa sẽ làm tăng sự biến động của thu nhập. Acharya (2006) thực hiện nghiện cứu trên 105 ngân hàng tại Ý trong khoảng thời gian từ 1993-1999 kết luận rằng: việc đa dạng hóa không đảm bảo tạo ra hiệu suất vượt trội và hoặc giảm rủi ro cho các ngân hàng. Cụithể là đối với các ngân hàng có mức độ rủi ro cao thì đa dạng hóa thu nhập làm giảm lợi nhuận và tạo ra các khoản vay có rủi ro cao hơn; đối với các ngân hàng có rủi ro thấp thì đa dạng hóa thu nhập tạo ra một sự cân bằng không hiệu quả giữa lợi nhuận và rủi ro.
Laeven và Levine (2007) nghiên cứu ngân hàng của 13 quốc gia Tây Âu và đa dạng hóa thu nhập gây tác động quá tiêu cực đến rủiiro. Baele và cộng sự (2007) nghiên cứu những ảnh hưởng đa dạngihóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động và rủi ro ngân hàng. Dữ liệu nghiên cứu được dùng là dữ liệu bảng các ngân hàng từ 17 quốc gia Châu Âu trong giai đoạn 1989 đến 2004. Kết quả nghiên cứu thể hiện các ngân hàng với tỷ lệ thu nhập phi tín dụng trên tổngithuinhập cao, thì có kết quả kinh doanh khả quan hơn.
Bên cạnh đó, đa dạng hóa các nguồn thu từ hoạt động khác nhau sẽ làm tăng rủi ro hệ thống ngân hàng. Rossi và cộng sự (2009) cho thấy sự đa dạng hóa tăng hiệu quả lợi nhuận đồng thời giảm rủi ro của các ngân hàng. Elsas và cộng sự (2010) nghiên cứu ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đối với hiệu quả kinh doanh, sử dụng dữ liệu của ngân hàng các quốc gia phát triển như: Úc, Canada, Pháp, Đức, Ý, Vương quốc Anh, Mỹ, Tây Ban Nha, và Thụy Sĩ) từ năm 1996 đến 2008, kết quả chứng minh rằng đa dạngihóaithu nhập giúp cải thiện khả năng sinh lời của ngân hàng thậm chí trong giai đoạn cuộc khủng hoảng tài chính của 2007-2008. Sanya và Wolfe (2011) 11 nghiên cứu tác động của đa dạng hóa và hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại 11 nền kinh tế mới nổi, kết luận rằng đa dạng hóa thu nhập giúp làm giảm rủi roiphá sản và gia tăng lợi nhuận cho các ngân hàng.
Berger và cộng sự (2010) thấy rằng đa dạng hóa ngân hàng Trung Quốc dẫn đến chi phí lớn và lợi nhuận thấp hơn. Nguyen và cộng sự (2012) chứng minh đa dạng hóa thu nhập đã giúp các ngân hàng của 04 nước Châu Á (Bangladesh, Ấn độ, Pakistan và Srilanka) ổn định hơn trong giai đoạn 1998- 2008. Pennathurivà cộng sự (2012) cho rằng đa dạng hóa mang lại nhiều lợi ích cho các ngân hàng tại Ấn Độ. Tuy nhiên, nó mang lại lợi ích cho ngân hàng ngoại hơn là ngân hàng nội địa.
DeYoung và Torna (2013) phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến sự thất bại của các ngân hàng trong cuộc khủng hoảng tài chính. Nghiên cứu cho việc chuyển đổi cơ cấu thu nhập ảnh hưởng đến khả năng thất bại của ngân hàng như thế nào lại phụ thuộc vào năng lực tài chính của chính ngân hàng đó. Trong khi các ngân hàng tham gia ở mức độ cao hơn trong các hoạt động phi truyền thống sẽ làm giảm rủi ro phá sản của tổ chức tín dụng; các ngân hàng suy thoái tài chính khi tham gia vàoicác hoạt động này sẽ làm tăng xác suất thất bại đối với ngân hàng. Delpachitra và Lester (2013) nghiên cứu tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động của 09 ngân hàng niêm yết Úc trong giai đoạn năm 2000- 2009.
Kết quả thực nghiệm cho thấy đa dạng hóa thu nhập làm giảm khả năng sinh lời và không giúp cải thiện rủi ro vốn có của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho rằng các ngân hàng sẽ không được hưởng lợi từ hoạt động phi tín dụng. Li và Zhang (2013) nghiên cứu sự phụ thuộc ngày càng tăng về thu nhập phi tín dụng của các ngân hàng Trung Quốc trong khoảng 1986-2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa dạng hóa thu nhập mang lại kết quả tích cực cho các ngân hàng nhưng cũng đồng thời có thể gia tăng rủi ro hệ thống.
Lee và cộng sự (2014b) nghiên cứu tác động của đaidạng hóa đến hoạt động của các ngân hàng tại 22 quốc gia khu vực Châu Á từ năm 2004 - 2009 chứng minh rằng đa dạng hóa thu nhập làm giảm rủi ro nhưng không gia tăng lợi nhuận. Meslier và cộng sự (2014) đã sử dụng dữ liệu bảng thu thập bởi 39 NHTM tại Philippines trong giai đoạn 1999 - 2005 để nghiên cứu vai trò và giá trị từ đa dạng hóa, chỉ ra 12 rằng thu nhập phi tín dụng làm tăng lợi nhuận ngân hàng và điều chỉnh giảm rủi ro ngân hàng. Đồng quan điểm, Leeivà cộng sự (2014) đã nghiên cứu ảnh hưởng của thu nhập phitín dụng đến lợi nhuận ngân hàng và rủi ro, sử dụng dữ liệu ngân hàng của 22 quốc gia ở Châu Á với 967 ngân hàng tư nhân trong giai đoạn 1995-2009.