Chương 1: Giới thiệu đề tài Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về sự truyền dẫn cú sốc thanh khoản giữa các NHTM và mối quan hệ giữa cú sốc thanh khoản đến kênh cho vay liên ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy khủng hoảng tài chính thực sự là một cú sốc thanh khoản, có mối quan hệ với kênh cho vay liên ngân hàng và đã làm nghiêm trọng hơn tác động của các yếu tố ảnh 123doc 6 hưởng đến kênh cho vay liên ngân hàng mà chủ yếu là tác động của kênh huy động tại các ngân hàng thương mại. Chương 5: Kết luận và hướng nghiên cứu mở rộng Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng mở rộng đề tài.
123doc 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Chính sách tiền tệ và sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ Kênh truyền dẫn tác động của CSTT thường là thông qua hệ thống tài chính và kênh ngân hàng. Đặc biệt, tại các nền kinh tế mà nguồn vốn tín dụng ngân hàng có vai trò quyết định trong hoạt động đầu tư và các ngân hàng hàng nhỏ đóng góp một vai trò tương đối quan trọng trong thị trường tài chính (bank based) thì rõ ràng các nhà điều hành chính sách cần quan tâm hơn tới kênh truyền dẫn qua tín dụng ngân hàng (điển hình là kênh cho vay). Và một trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự truyền dẫn CSTT qua kênh cho vay là tính thanh khoản trên thị trường ngân hàng. Do đó, việc nghiên cứu để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa thanh khoản và kênh cho vay là rất hữu ích cho việc hoạch định chính sách, góp phần phát triển một phản ứng CSTT thích hợp để giúp nền kinh tế vượt qua những cú sốc thanh khoản.1 Chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định.
Chính sách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường. Theo nghĩa rộng thì CSTT là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đến bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa. Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kì tới (thường là một năm) phù hợp với 123doc 8 mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hóa. Hiểu đơn giản là CSTT được xem là các hành động của NHTW nhằm thay đổi cung tiền hoặc lãi suất chính sách để hướng đến mục tiêu ổn định lạm phát, tăng trưởng kinh tế, toàn dụng lao động và ổn định tỷ giá hối đoái.
Trong đó, công cụ của CSTT gồm lãi suất chính sách (lãi suất tái chiết khấu, lãi suất liên ngân hàng), mua bán chứng khoán ngắn hạn trên thị trường mở hay sử dụng dự trữ bắt buộc. Tác động của CSTT luôn được thể hiện rõ nét và có uy lực tới nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng so với nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác trong suốt quá trình vận hành của nền kinh tế, đặc biệt là trong ngắn hạn. Vì vậy, để có một CSTT phù hợp, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải có một sự hiểu biết rõ ràng về cơ chế truyền dẫn tiền tệ và tầm quan trọng của các kênh truyền dẫn khác nhau như tín ụng, lãi suất và tỷ giá hối đoái. và ảnh hưởng của các kênh truyền dẫn này đến các khu vực của nền kinh tế.2 Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ Truyền dẫn CSTT là quá trình truyền dẫn những thay đổi trong lãi suất chính sách hoặc cung tiền đến các thay đổi khác của các yếu tố kinh tế như lãi suất thị trường, giá tài sản, tỷ giá hối đoái, dòng tiền, cung tín dụng ngân hàng, tiêu ùng tư nhân… để hướng đến mục tiêu cuối cùng là mức giá, tăng trưởng kinh tế và lao động của nền kinh tế (Mankiw and Taylor, 2011).1: Sơ đồ minh hoạ các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ 1 Các cú sốc nằm Lãi suất chính thức ngoài sự kiểm soát của NHTW Sự kỳ vọng Lãi suất thị trường và ngân Thay đổi phí rủi hàng ro Thay đổi vốn Tiền tệ, tín dụng Giá tài Lãi suất Tỷ giá ngân hàng sản mục tiêu Thay đổi của kinh tế thế giới Thu nhập tiền Cung cầu hàng hóa và lao động lương và giá cả trên thị trường Thay đổi chính sách tài khóa Giá trong nước Giá nhập khẩu Thay đổi giá hàng hóa Mức giá chung của nền kinh tế Hình trên trình bày cơ chế truyền dẫn công cụ CSTT đến mức giá chung của nền kinh tế.
Ví dụ như cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh cho vay, NHTW mở rộng mức cung tiền trong nền kinh tế, làm cho lãi suất thị trường giảm xuống cũng như lãi suất liên ngân hàng sẽ giảm, từ đó làm gia tăng các khoản cho vay ngân hàng, chính việc tăng các khoản vay sẽ làm đầu tư và tiêu ùng của các chủ thể kinh tế cũng tăng theo ẫn đến mức giá chung của nền kinh tế tăng (trường hợp CSTT nới lỏng) M -> lãi suất giảm -> các khoản vay ngân hàng tăng -> I -> Y Hàm ý quan trọng của quan điểm về kênh cho vay là CSTT có ảnh hưởng lớn đến tới sự tiêu dùng của các công ty nhỏ phụ thuộc nhiều vào các khoản vay 1 Nguồn: https://www.eu/mopo/intro/transmission/html/index.html 123doc 10 ngân hàng hơn là các công ty lớn có khả năng huy động vốn trực tiếp từ thị trường bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu.3 Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ 2.1 Kênh lãi suất Kênh lãi suất là kênh cơ bản được đề cập tới trong nhiều lý thuyết kinh tế trong hơn năm mươi năm qua và là cơ chế truyền dẫn tiền tệ quan trọng trong mô hình IS-LM của phái Keynes, một nền tảng cho lý thuyết kinh tế học vĩ mô hiện nay. Quan điểm của phái Keynes với mô hình IS-LM được thể hiện thông qua sơ đồ truyền dẫn sau: M => ir => Y M thể hiện việc nới lỏng chính sách tiền tệ, khiến lãi suất thực giảm ( ir ), do đó làm giảm chi phí vốn, ẫn đến tăng chi tiêu cho đầu tư (I ), từ đó ẫn đến tăng tổng cầu và tăng sản lượng (Y). Việc điều hành CSTT thông qua kênh lãi suất đang ần trở thành xu hướng toàn cầu khi các NHTW trên thế giới đang cố gắng thiết lập các mức lãi suất ngắn hạn để điều tiết thị trường và đạt được các mục tiêu vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát. Đó là o, lãi suất điều hành của NHTW có thể tác động tới chi phí vốn, thông qua đó, tác động đến hoạt động đầu tư, thu nhập, tiết kiệm, tiêu dùng của nền kinh tế, giá cả và sự chuyển dịch các tài sản tài chính từ đó tác động đến tổng cầu và CPI, giúp các quyết định CSTT của NHTW có thể lan tỏa tới nền kinh tế.
Đã có nhiều nghiên cứu về cơ chế truyền tải CSTT thông qua kênh lãi suất được công bố trên thế giới cũng như ở Việt Nam tất cả các nghiên cứu đều khẳng định sự tồn tại của kênh lãi suất tới nền kinh tế. Thông qua việc điều chỉnh các mức lãi suất NHTW có thể tác động tới nền kinh tế và đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát CPI.2 Kênh tỷ giá Bên cạnh kênh lãi suất, kênh tỷ giá cũng là kênh truyền dẫn quan trọng của CSTT. Với sự mở rộng của nền kinh tế Mỹ và việc hướng tới tỉ giá hối đoái thả nổi ở nhiều nền kinh tế, đã có nhiều sự chú ý tới hoạt động truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua việc tỷ giá hối đoái tác động lên xuất khẩu ròng. Kênh này cũng liên quan tới những tác động của lãi suất, vì khi lãi suất thực trong nước giảm, tiền gửi bằng nội tệ trở nên kém hấp dẫn hơn so với những khoản tiền gửi bằng các ngoại tệ khác, dẫn tới sự sụt giảm trong giá trị của tiền gửi bằng nội tệ so với tiền gửi bằng các đồng tiền khác, đó chính là sự giảm giá của đồng nội tệ.
Giá trị của đồng nội tệ thấp hơn làm cho hàng hóa nước đó trở nên rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, và o đó làm tăng xuất khẩu ròng và GDP. Sơ đồ về hoạt động của cơ chế truyền dẫn tiền tệ thông qua tỷ giá hối đoái được biểu diễn như sau: M => ir => E => NX => Y 2.3 Kênh giá tài sản Kênh giá tài sản tồn tại ở hầu hết các quốc gia phát triển, nhưng chỉ tồn tại ở một số quốc gia đang phát triển bởi vì thị trường nợ và thị trường vốn của các quốc gia này còn nhỏ hoặc chưa phát triển (Mishra and Montiel, 2012) Có hai kênh quan trọng có liên quan đến giá tài sản trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ là kênh liên quan tới học thuyết q của Tobin về đầu tư và những tác động của mức độ giàu có lên tiêu dùng.4 Kênh tín dụng Có hai kênh truyền dẫn tiền tệ cơ bản đều xuất phát từ kết quả của vấn đề thông tin không cân xứng trong thị trường tín dụng là: Kênh cho vay ngân hàng và kênh bảng cân đối tài sản.