đặt vấn đề nêu lên lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi, đối tượng cũng như phương pháp nghiên cứu và kết cấu của báo cáo nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận cho chủ đề nghiên cứu Nội dung chính của chương này bao gồm cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài này và mô hình nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Chương 3: Kết quả nghiên cứu Nội dung của chương này là trình bày kết quả nghiên cứu định tính và định lượng, thể hiện bao quát thực trạng công ty thông qua số liệu thu thập được; cũng như kết quả khảo sát, kiểm tra bằng phương pháp thống kê mô tả để thấy rõ hơn vấn đề tồn tại của công ty. Chương 4: Đề xuất giải pháp và kế hoạch hành động Nội dung trình bày chương này sẽ trình bày các giải pháp từ cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm, đóng góp giải pháp của nhân viên và tác giả lựa chọn giải pháp phù hợp để phát huy sự đổi mới sáng tạo của nhân viên cũng là duy trì và phát triển đổi mới sáng tạo của tổ chức.
Ngoài ra, nội dung chương cũng đề cập đến những đóng góp, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo cho đề tài này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Giới thiệu Tổng quan về lý thuyết nghiên cứu sẽ dựa trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu, bao gồm các đối tượng có liên quan sau: Sự sáng tạo, mối quan hệ giữa đổi mới và sáng tạo, các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo của nhân viên trong tổ chức, phát triển tổ chức, quản trị sự thay đổi Dựa trên nền tảng cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo của nhân viên, người nghiên cứu đề xuất mô hình lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng phù hợp với công ty. Mô hình này sẽ được kiểm chứng lại được trình bày ở chương 3.
Các lý thuyết về sự sáng tạo 2. Các tiếp cận về sự sáng tạo Nghiên cứu về sự sáng tạo của nhân viên, như một lĩnh vực nhỏ trong nghiên cứu hành vi tổ chức. Các nền tảng của sự sáng tạo bắt đầu nghiên cứu vào cuối những năm 1980, xây dựng trên các chuyên đề về tâm lý xã hội (Amabile, 1983), Amabile (1988) có lẽ là người đầu tiên đề xuất khung lý thuyết cơ bản và hỗ trợ thực nghiệm để hiểu được các yếu tố cá nhân (ví dụ như kiến thức và kỹ năng, chiến lược có liên quan đến sáng tạo cá nhân, .) và các yếu tố môi trường (ví dụ như chính sách - khen thưởng) có thể khuyến khích hoặc hạn chế sự sáng tạo của nhân viên. Sau đó Shalley (1991) đã chứng minh ảnh hưởng khác nhau của hai yếu tố có tác động đáng kể đến sự sáng tạo tại nơi làm việc - mục tiêu năng suất và mục tiêu sáng tạo về sự sáng tạo.
Woodman và cộng sự (1993) đưa ra tuyên bố rằng sự sáng tạo ảnh hưởng bởi sự tương tác của các yếu tố cá nhân và môi trường tổ chức, và đánh giá nhiều yếu tố cá nhân, yếu tố nhóm và yếu tố tổ chức có thể tác động đến sự sáng tạo. Oldham và Cummings (1996) công bố một thử nghiệm quan trọng của các yếu tố cá nhân, yếu tố môi trường, sự tương tác giữa các yếu tố này đến sự sáng tạo tại nơi làm việc, và chứng minh thành công của sự tồn tại các hiệp hội, đoàn thể. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Tiếp theo sự thành công của Oldham và Cummings, hàng loạt các tác giả sau đó cũng nghiên cứu về các yếu tố tổ chức, sự khác biệt của cá nhân cũng như sự tương tác của yếu tố ngữ cảnh và cá nhân lên sự sáng tạo, (ví dụ như: Amabile (1996), Oldham & Cummings, 1996; Tierney & Farmer, 2002; Tierney và cộng sự, 1999; Zhou & George, 2001; Shalley và cộng sự, 2004). Trong khi đó, bản thân công việc cũng có những đóng góp đáng kể đến sự nhận biết của nhân viên về những yếu tố tăng cường hoặc suy giảm các hoạt động sáng tạo tại nơi làm việc.
Định nghĩa sự sáng tạo Sự sáng tạo (creativity) được các nhà nghiên cứu nhìn nhận theo nhiều quan điểm khác nhau, hiện tại vẫn chưa có một khái niệm thống nhất (DiLiello & Houghton, 2006). Vì vậy sự sáng tạo được định nghĩa theo nhiều cách như sau: Amabile (1996) định nghĩa: Sự sáng tạo là việc tạo ra những ý tưởng mới và hữu ích trong bất cứ một lĩnh vực nào đó. Các lĩnh vực có thể là những hoạt động chung của con người từ khoa học, nghệ thuật, kinh doanh cho đến những hoạt động thường ngày. Để được xem là sáng tạo, những sản phẩm hoặc ý tưởng phải khác so với những cái đã có trước đó.
Ý tưởng sáng tạo không nhất thiết phải mới hoàn toàn, nhưng phải phù hợp với mục tiêu và có giá trị. Và Amabile đã chỉ ra những quan niệm sai lầm về sự sáng tạo, sự sáng tạo không hoàn toàn là: - Tính cách: Việc nhìn nhận sự sáng tạo như là một hành vi và là kết quả của một quá trình hay một ý tưởng hơn là xem sự sáng tạo là một tính cách. - Nghệ thuật: Sự sáng tạo là hành vi tạo ra cái mới và phù hợp trong bất kỳ lĩnh vực nào – từ quản trị kinh doanh cho đến khoa học khám phá và nhiều lĩnh vực khác. - Sự thông minh: Một điều chắc chắn rằng thông minh đóng góp vào sự sáng tạo.
Nhưng thực tế, ngoài thông minh còn có nhiều yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến sự sáng tạo. - Điều tốt đẹp: Những hành vi mang tính mới và phù hợp với mục tiêu có thể được áp dụng vào những việc xấu cũng như những việc tốt. Theo Woodman & cộng sự (1993): Sự sáng tạo là việc tạo ra những sản phẩm, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 dịch vụ, ý tưởng, thủ tục hay qui trình mới hữu ích và có giá trị. Ở đây, tác giả nhấn mạnh ba tính chất đó là mới, hữu ích và có giá trị trong khi Amabile chỉ nhắc đến sự mới mẻ và hữu ích.
Tuy nhiên, việc hữu ích cũng ngầm liên quan đến giá trị mà sự sáng tạo có thể mang lại. Olham & Cummings (1996) định nghĩa: Một sản phẩm, ý tưởng hay quy trình có sáng tạo phải thỏa mãn hai điều kiện: (1) mới mẻ và độc đáo; (2) có liên quan và hữu ích cho một tổ chức nào đó. Một sản phẩm, ý tưởng hoặc quy trình là mới nếu nó liên quan đến việc tái tổ hợp quan trọng các vật chất sẵn có (existing materials) hoặc giới thiệu vật chất hoàn toàn mới (new materials). Kreitner & Kinicki (2004) trong sách về hành vi tổ chức cho rằng sự sáng tạo được định nghĩa là quá trình sử dụng trí tưởng tượng và kỹ năng để phát triển một ý tưởng, sản phẩm, đối tượng, hoặc quá trình mới hoặc độc đáo.
Định nghĩa này làm nổi bật ba khía cạnh của sự sáng tạo là tạo ra cái mới (creation), kết hợp hoặc tổng hợp cái hiện có (synthesis) và cải tiến hoặc thay đổi cái hiện có (modification). Tóm lại, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm đã xác định sự sáng tạo như một kết quả, sáng tạo được định nghĩa là việc đưa ra các ý tưởng mới và hữu ích (giá trị) liên quan đến sản phẩm, dịch vụ, quy trình và thủ tục (Amabile, 1996; Oldham & Cummings, 1996; Shalley, 1991). Cả hai tính chất mới và tính hữu dụng là điều kiện cần thiết cho một ý tưởng hoặc giải pháp được đánh giá sáng tạo. Để được coi là sáng tạo, sự mới lạ là chưa đủ; ý tưởng cũng phải hữu ích.
Một ý tưởng mới lạ là đặc biệt nhưng không có giá trị tiềm năng là không sáng tạo (Zhou & George, 2003). Sự mới mẻ có thể mang tính tuyệt đối là khác biệt hoàn toàn với những cái trước đó hoặc khác biệt tương đối, tức là cải tiến cái hiện có. Tính giá trị thể hiện ở chỗ ý tưởng, sản phẩm hoặc quá trình mới phải có tính hữu ích và mang lại giá trị cho người sử dụng. Định nghĩa này bao gồm các giải pháp sáng tạo cho các vấn đề kinh doanh, chiến lược kinh doanh sáng tạo, và những thay đổi sáng tạo trong quá trình làm việc.
Trong nghiên cứu này, định nghĩa sự sáng tạo là sự phát triển của những ý tưởng về sản phẩm, dịch vụ, thực hiện, quy trình và thủ tục được đánh giá là chính yếu, các ý tưởng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 có tính chất mới lạ, phù hợp và có hữu ích (Amabile, 1996; Oldham & Cummings, 1996; Shalley, 1991; Shalley, 2004; Zhou & George, 2001; Zhou & Shalley, 2003). Kết quả sáng tạo có thể bắt đầu từ thay đổi nhỏ trong công việc hoặc những thay đổi đột phá về sản phẩm và phát triển sản phẩm mới hoặc các quá trình lớn (Mumford & Gustafson, 1988). Sự sáng tạo của tổ chức Trong các công trình nghiên cứu lý thuyết, các tác giả cho rằng có sự khác biệt về sáng tạo ở các cấp độ khác nhau, do đó cách dùng thuật ngữ cũng khác nhau. Amabile, Shalley, Olham & Cummings cho rằng sự sáng tạo của nhân viên khác với sự đổi mới.
Sự sáng tạo của nhân viên trong tổ chức là một dạng hành vi sáng tạo của cá nhân diễn ra trong môi trường tổ chức. Vì thế, khái niệm này cũng mang hai thuộc tính của sự sáng tạo đó là tính mới và hữu ích đối với tổ chức. Amabile cũng là tác giả nghiên cứu sự sáng tạo và sự đổi mới diễn ra trong môi trường tổ chức. Theo đó, sự sáng tạo là việc tạo ra ý tưởng mới và hữu ích, ý tưởng tạo ra ở cấp độ cá nhân còn sự đổi mới là việc áp dụng thành công ý tưởng đó ở cấp độ tổ chức (Amabile, 1996, 1998).
Theo đó, sự sáng tạo của cá nhân hoặc nhóm là xuất phát điểm cho sự sáng tạo tổ chức và đổi mới. Shalley còn cho rằng, sự sáng tạo trong tổ chức được định nghĩa là sự phát triển những ý tưởng về sản phẩm, ứng dụng, dịch vụ hay quá trình phải mới mẻ và có tính hữu ích tiềm năng đối với tổ chức đó. Một ý tưởng được xem là mới nếu nó mang tính độc đáo hơn so với những hiện trạng tồn tại trong tổ chức. Một ý tưởng được xem là hữu ích khi có tiềm năng mang lại giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp cho tổ chức, trong ngắn hạn cũng như dài hạn (Shalley & cộng sự, 2004).
Quan điểm của Woodman & cộng sự thì có sự khác biệt so với các tác giả trên.