Luận Văn Thạc Sĩ: Nghiên Cứu Sự Hấp Phụ Của Than Hoạt Tính Dạng Siêu Mịn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng hấp phụ của than hoạt tính dạng siêu mịn, ứng dụng trong xử lý môi trường và công nghiệp hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

158
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Những khái niệm chung về than hoạt tính

1.2. Sơ lược về than hoạt tính

1.3. Cấu trúc than hoạt tính

1.4. Sản xuất than hoạt tính và than hoạt tính siêu mịn

1.5. Tính chất hấp phụ của than hoạt tính

1.6. Nhiệt động học hấp phụ

1.7. Động học hấp phụ trên than hoạt tính và than hoạt tính siêu mịn

1.8. Hiện trạng nghiên cứu ứng dụng than hoạt tính và than hoạt tính siêu mịn trong thực tế

1.8.1. Ứng dụng trong quân sự

1.8.2. Ứng dụng trong y học

1.8.3. Ứng dụng trong công nghiệp hóa mỹ phẩm

1.8.4. Ứng dụng trong lĩnh vực xử lý môi trường và các lĩnh vực khác

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Nguyên liệu, hóa chất và thiết bị nghiên cứu

2.2.1. Các hoá chất dùng trong nghiên cứu

2.2.2. Thiết bị công nghệ dùng trong phân tích đo đạc

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp tạo kích thước hạt than

2.3.2. Phương pháp xác định phân bố kích thước và cấu trúc bề mặt

2.3.3. Phương pháp xác định tỷ trọng than hoạt tính

2.3.4. Phương pháp hấp phụ đẳng nhiệt nitơ ở nhiệt độ (-196)0C

2.3.5. Phương pháp hấp phụ benzen

2.3.6. Phương pháp phân tích, xác định hàm lượng các chất hữu cơ

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm nghiên cứu phân bố kth của các mẫu than hoạt tính siêu mịn được chế tạo bằng phương pháp nghiền bi

3.1.1. Đặc điểm phân bố kth than siêu mịn chế tạo từ THT Trà Bắc

3.1.2. Đặc điểm phân bố kth than siêu mịn chế tạo từ THT TQ

3.1.3. Đặc điểm phân bố kth than siêu mịn chế tạo từ THT tre

3.2. Xác định tính chất, cấu trúc xốp của các mẫu than sau nghiền

3.2.1. Đánh giá cấu trúc xốp thông qua hấp phụ nitơ

3.2.2. Khảo sát sự hấp phụ nitơ trên THT Trà Bắc

3.2.3. Khảo sát sự hấp phụ nitơ trên THT Trung Quốc

3.2.4. Khảo sát sự hấp phụ nitơ trên THT Tre

3.3. Khả năng hấp phụ hơi benzen của các loại THT

3.3.1. Khảo sát khả năng hấp phụ benzen trên THT Trà Bắc

3.3.2. Khảo sát khả năng hấp phụ benzen trên THT Trung Quốc

3.3.3. Khảo sát khả năng hấp phụ benzen trên THT Tre

3.4. Nghiên cứu quá trình hấp phụ đẳng nhiệt và động học hấp phụ của THT có kích thước siêu mịn trong môi trường nước

3.4.1. Đặc điểm quá trình hấp phụ MB trên các mẫu THT siêu mịn

3.4.2. Đẳng nhiệt hấp phụ MB trên các mẫu THT siêu mịn

3.4.3. Động học hấp phụ của MB trên các mẫu THT siêu mịn

3.4.4. Đặc điểm quá trình hấp phụ TNR trên các mẫu THT siêu mịn

3.4.5. Đẳng nhiệt hấp phụ TNR trên các mẫu THT siêu mịn

3.4.6. Động học hấp phụ với TNR trên các mẫu THT siêu mịn

3.4.7. Đặc điểm quá trình hấp phụ TNT trên các mẫu THT siêu mịn

3.4.8. Nghiên cứu đề xuất phương án áp dụng THT siêu mịn cho công nghệ xử lý nước thải nhiễm TNT

3.4.8.1. Thiết lập mô hình tính toán xử lý nước thải nhiễm TNT theo mẻ
3.4.8.2. Cơ sở đề cương áp dụng THT siêu mịn cho xử lý nước thải nhiễm TNT theo mẻ
3.4.8.3. Tính toán áp dụng THT siêu mịn cho xử lý nước thải nhiễm TNT theo động học hấp phụ

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu tổng quan về than hoạt tính

Luận án tập trung vào nghiên cứu sự hấp phụ của than hoạt tính dạng siêu mịn, một loại vật liệu có cấu trúc xốp và diện tích bề mặt lớn. Than hoạt tính được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như xử lý nước, xử lý khí, và công nghệ quân sự. Luận án cung cấp cái nhìn tổng quan về cấu trúc, tính chất, và phương pháp sản xuất than hoạt tính, đặc biệt là dạng siêu mịn. Các phương pháp hoạt hóa hóa học và hơi nước được đề cập như những cách thức chính để tạo ra than hoạt tính có khả năng hấp phụ cao.

1.1. Cấu trúc và tính chất của than hoạt tính

Than hoạt tính có cấu trúc mạng vô định hình với hệ thống mao quản phát triển, tạo diện tích bề mặt lớn. Các nhóm chức hóa học trên bề mặt và thành mao quản giúp tăng khả năng hấp phụ. Luận án phân tích chi tiết cấu trúc graphit hóakhông graphit hóa của than hoạt tính, cũng như các loại mao quản khác nhau. Điều này giúp hiểu rõ hơn về cơ chế hấp phụ của vật liệu này.

1.2. Phương pháp sản xuất than hoạt tính siêu mịn

Luận án đề cập đến các phương pháp sản xuất than hoạt tính siêu mịn, bao gồm nghiền cơ học và hoạt hóa hóa học. Phương pháp nghiền cơ học được đánh giá là không làm ảnh hưởng đến cấu trúc mao quản của than hoạt tính, phù hợp với quy trình sản xuất trong phòng thí nghiệm. Các thí nghiệm được thực hiện để xác định kích thước hạt và phân bố kích thước của than hoạt tính siêu mịn.

II. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng

Luận án sử dụng các phương pháp phân tích hiện đại như SEM, BET, và hấp phụ đẳng nhiệt để đánh giá cấu trúc và tính chất của than hoạt tính siêu mịn. Các thí nghiệm được thực hiện trên ba loại than hoạt tính khác nhau: Trà Bắc, Trung Quốc, và Tre. Mục tiêu là xác định ảnh hưởng của kích thước hạt đến quá trình hấp phụ trong pha khí, hơi hữu cơ, và dung dịch nước.

2.1. Phương pháp xác định cấu trúc và kích thước hạt

Các phương pháp như SEMBET được sử dụng để phân tích cấu trúc mao quản và kích thước hạt của than hoạt tính siêu mịn. Kết quả cho thấy phương pháp nghiền cơ học không làm thay đổi cấu trúc mao quản, đảm bảo tính ổn định của vật liệu trong quá trình hấp phụ.

2.2. Phương pháp hấp phụ đẳng nhiệt

Luận án sử dụng phương pháp hấp phụ đẳng nhiệt để đánh giá khả năng hấp phụ của than hoạt tính siêu mịn đối với các chất như nitơ, benzen, và methylene blue. Các kết quả cho thấy than hoạt tính siêu mịn có hiệu suất hấp phụ cao hơn so với các loại than hoạt tính thông thường.

III. Kết quả và ứng dụng thực tiễn

Luận án đưa ra các kết quả nghiên cứu chi tiết về quá trình hấp phụ của than hoạt tính siêu mịn trong các môi trường khác nhau. Các phương trình đẳng nhiệtđộng học hấp phụ được thiết lập, giúp dự đoán hiệu suất hấp phụ của vật liệu. Than hoạt tính siêu mịn được đánh giá là có tiềm năng lớn trong xử lý nước thảixử lý khí thải công nghiệp.

3.1. Đánh giá hiệu suất hấp phụ

Các kết quả cho thấy than hoạt tính siêu mịn có hiệu suất hấp phụ cao hơn so với các loại than hoạt tính thông thường, đặc biệt là trong việc loại bỏ các chất hữu cơ như methylene blueTNT. Kích thước hạt càng nhỏ, hiệu suất hấp phụ càng cao.

3.2. Ứng dụng trong xử lý môi trường

Luận án đề xuất các ứng dụng thực tiễn của than hoạt tính siêu mịn trong xử lý nước thảixử lý khí thải. Vật liệu này có thể được sử dụng để loại bỏ các chất ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng, góp phần bảo vệ môi trường.

02/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1. Những khái niệm chung về than hoạt tính 1. Sơ lược về than hoạt tính Than hoạt tính là một họ vật liệu carbon đặc biệt: được tạo thành từ carbon (C), có cấu trúc mạng vô định hình và vi tinh thể [11], [12], [36], [62], chứa bên trong một hệ thống mao quản (pore) khá phát triển, có diện tích bề mặt riêng khá lớn (hàng trăm đến hàng nghìn m2/g), có nhiều nhóm chức hóa học trên bề mặt và trên thành mao quản [4], [12], [40], [44]. Do đó, THT là vật liệu có khả năng hấp phụ tốt đối với các chất bị hấp phụ trong pha khí, hơi và chất lỏng, đặc biệt đối với các hợp chất hữu cơ.

THT được phát hiện và quan tâm nghiên cứu từ thế kỷ thứ 17. Một công nhân nhà máy dệt nhuộm đã đổ nhầm tro đen vào bể nước thải nhuộm. Sáng hôm sau, nước trong bể mất màu hoàn toàn. Hiện tượng này được các kỹ thuật viên nhà máy nhuộm quan tâm và sau đó được thông tin trên báo chí.

Nhiều nhà khoa học để ý tới hiện tượng này và họ bắt đầu quan tâm nghiên cứu [25], [36], [44]. Nhưng trước đó, than gỗ (carbonized wood) đã được sử dụng với mục đích hấp phụ trong tinh lọc thức ăn, thức uống bởi người Ai Cập vào những năm 1.500 trước Công nguyên. Cũng có nhiều bằng chứng cho thấy người Hinđu cổ đại đã biết sử dụng than để lọc nước uống [29], [49], [82]. Năm 1773, Scheele phát hiện ra trong tro đen còn có một lượng than chưa cháy hết.

Chính các hạt than nhỏ này đã làm mất màu của dung dịch thuốc nhuộm, ông gọi đó là hiện tượng tẩy màu. Sau đó, Scheele trộn bột than gỗ với một số hóa chất như vôi, xút, clorua kẽm, carbonat magie, axít phosphoric. , đem nung nóng đỏ, để nguội, rồi rửa sạch và sấy, ông nhận thấy e 5 than gỗ lúc này có khả năng tẩy màu. Phương pháp chế tạo than đó được gọi là “hoạt hóa hóa học” và vẫn đang được ứng dụng sản xuất THT cho đến ngày nay.

Cũng nhờ những nghiên cứu này mà năm 1794, THT lần đầu tiên được áp dụng để tẩy trắng đường [29], [34], [62], [63]. Năm 1803 Lec đã sử dụng hơi nước cho qua than nung đỏ ở 900 0C. Ông phát hiện thấy than được hoạt hóa rất tốt và ông gọi đó là hoạt hóa hơi nước. Phương pháp này đơn giản, không gây ăn mòn kim loại nên nó thường được sử dụng để sản xuất THT sau này [6], [44].

Ngày 22/04/1915, trong đại chiến thế giới lần thứ nhất, quân Đức Phổ đã dùng hơi clo làm vũ khí hóa học khiến hàng vạn binh lính cả hai bên nhiễm độc và có tới gần 15.000 người chết. Sau đó, năm 1916 nhà bác học người Nga Zelinsky đã sử dụng THT chế tạo một chiếc mặt nạ phòng clo đầu tiên, đánh dấu một bước quan trọng cho việc sử dụng THT trong quân sự. Đến năm 1917, nước Nga đã sản xuất tới 7 triệu chiếc mặt nạ sử dụng THT để trang bị cho quân đội [4], [6]. Năm 1935, chiếc mặt nạ phòng hơi độc tính cao (sarin, soman, yperit) ra đời sử dụng THT dạng ép viên và tẩm xúc tác là các oxít kim loại hoạt động (Cu, Cr, Ag).

Thời gian này (1920-1939), hàng loạt các mặt nạ phòng độc ra đời ở châu Âu và Mỹ với nguyên liệu chủ yếu là than hoạt tính. Cùng với việc nghiên cứu chế tạo THT, các phương pháp thí nghiệm đo đạc xác định tính chất của THT cũng ra đời như: phương pháp hấp phụ động lực, phương pháp hấp phụ đẳng nhiệt chân không - cân Markbell, Nova, Asap, Autopore.vv, nhằm xác định các thông số cấu trúc tạo điều kiện cho việc nghiên cứu điều chỉnh công nghệ chế tạo THT chất lượng cao [6], [7], [31], [40], [51]. e 6 Ngày nay, THT đã được sử dụng rộng rãi hầu khắp mọi lĩnh vực khoa học, quân sự và đời sống. Tuỳ theo mục đích sử dụng, người ta phân loại THT như sau: than lọc khí hơi, than tẩy màu, than lọc nước, than trao đổi ion.

Theo nghiên cứu gần đây nhất của nhóm Freedonia thì nhu cầu thế giới sử dụng THT trong năm 2011 là: 1,2 triệu tấn, phân bố cho từng vùng như sau: 39% ở châu Á - Thái Bình Dương, 28% ở Bắc Mỹ, 15% ở Tây Âu và 18% cho các khu vực khác. Dự báo sẽ tăng khoảng 10,3% mỗi năm và tới năm 2016 thì nhu cầu sử dụng sẽ lớn hơn 1,9 triệu tấn. Đến nay, có khoảng hơn 150 công ty sản xuất THT trên toàn thế giới, với các công ty công nghiệp hàng đầu như: Calgon Carbon, NORIT, MeadWestvaco, PICA, CECA, Kuraray và Takeda [25], [36], [80]. Ở các quốc gia phát triển, than hoạt tính được nghiên cứu ứng dụng trong nhiều trong lĩnh vực công nghệ như dược phẩm, y tế, quân sự.

Còn tại các nước đang phát triển thì THT được ứng dụng trong công nghệ xử lý môi trường, như: xử lý nước, xử lý khí thải và khắc phục hậu quả chất thải nguy hại. Cấu trúc của than hoạt tính THT có 3 đặc điểm quan trọng về cấu trúc: đó là cấu trúc vi tinh thể, cấu trúc mao quản và cấu trúc hóa học carbon bề mặt. Cấu trúc vi tinh thể của THT Than hoạt tính không phải vật liệu vô định hình [36] mà về cơ bản, THT có cấu trúc vi tinh thể. Cấu trúc này được tạo ra trong quá trình than hóa (carbonization process).

Tuy nhiên, cấu trúc vi tinh thể của THT khác với của graphit. Khoảng cách giữa các lớp graphit là 0,335nm, trong khi đó khoảng cách giữa các lớp tinh thể của THT là 0,34 - 0,35nm. Sự định hướng của các lớp cũng khác nhau: trong THT các lớp định hướng không trật tự. Sự biến dạng của các lớp vi tinh thể là do sự có mặt của các nguyên tố như oxy, hydro và do các khuyết tật mạng trong THT.

Cấu trúc mạng tinh thể trật tự của graphit và cấu trúc lệch mạng của THT được minh họa trên hình vẽ 1.1 dưới đây: Hình 1. So sánh mạng không gian 3 chiều của THT (a) và graphit (b) Theo Franklin [36], [61], [62], [64], trên cơ sở nghiên cứu XRD, đã chia THT thành 2 loại khác nhau dựa trên cơ sở khả năng graphit hóa: THT graphit hóa và THT không graphit hóa. - Dạng THT graphits hóa được tạo ra trong quá trình than hóa do các tinh thể cơ sở liên kết ngang với nhau yếu và có cấu trúc mao quản kém phát triển. - Dạng THT không graphit hóa được tạo ra do các mặt tinh thể liên kết ngang với nhau khá mạnh, do đó tạo ra một vật liệu cứng, không linh động, có cấu trúc vi mao quản phát triển.2 dưới đây minh họa cấu trúc của hai loại THT graphit hóa (a) và THT không graphit hóa (b).

Sơ đồ minh họa cấu trúc graphit hóa và không graphit hóa của THT 1. Cấu trúc mao quản THT có các vi tinh thể sắp xếp không theo một trật tự nhất định, giữa các vi tinh thể lại có các liên kết ngang bền vững nên tạo ra một cấu trúc mao quản (porous structure) rất phát triển. THT có khối lượng riêng nhỏ (<2,5g/cm3) và độ graphit hóa không cao. Cấu trúc mao quản được tạo ra trong quá trình than hóa, và được phát triển thêm trong quá trình hoạt hóa nhờ sự giải phóng các hợp chất nhựa và các tạp chất carbon tạo thành lỗ hổng không gian giữa các vi tinh thể.

Quá trình hoạt hóa làm tăng đáng kể thể tích mao quản và đường kính các mao quản được mở rộng thêm. Cấu trúc mao quản và sự phân bố mao quản của THT được quyết định chủ yếu do bản chất nguyên liệu và do phương pháp than hóa nguyên liệu. Quá trình hoạt hóa cũng loại bỏ các dạng carbon vô định hình, làm cho các vi tinh thể có điều kiện tương tác với các tác nhân hoạt hóa và dẫn đến sự hình thành cấu trúc vi mao quản (microporous structure). Trong giai đoạn sau của quá trình hoạt hóa, các mao quản đã hình thành được mở rộng ra (quá trình bào mòn) và tạo nên một số mao quản rộng do sự “cháy” (hoặc phá vỡ) các thành mao quản nhỏ dẫn đến sự hình thành các mao quản trung bình và mao quản lớn và làm giảm thể tích và số lượng mao quản nhỏ.

Theo Dubinin và Zaverina [12], [25], [64], [78], THT mao quản nhỏ được hình thành khi độ “bốc cháy” của nguyên liệu ít hơn 50% và THT mao quản rộng được tạo ra khi độ “bốc cháy” e 9 lớn hơn 75%. Khi độ cháy của than giữa 50 và 75%, sản phẩm hoạt hóa là một vật liệu chứa một tập hợp các loại mao quản nhỏ, vừa và lớn. Nói chung, THT có một bề mặt trong khá phát triển và có một cấu trúc mao quản đa phân tán giữa nhiều mao quản có kích thước và hình dạng khác nhau. Rất khó để có thể xác định chính xác hình dáng các mao quản, song bằng các phương pháp khác nhau, người ta có thể xác định được hình dạng các mao quản có cấu hình kiểu lọ mực (ink bottle), kiểu mao dẫn (capillaries) hở hai đầu hoặc hở một đầu, dạng hình khe trật tự, dạng hình chữ V.

Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng: trong các tính toán thực tế, có thể xem các mao quản có dạng hình lọ mực hoặc hình trụ thẳng để tính toán bán kính mao quản mà không dẫn đến sai số đáng kể. Hệ mao quản của THT được phân chia thành 3 loại (theo IUPAC) [4], [12], [15], [25], [36], [64]: - Mao quản nhỏ (vi mao quản): d < 2nm (r < 1nm). - Mao quản trung bình: 2 < d < 50nm (1 < r < 25nm). - Mao quản lớn: d > 50nm (r > 25nm) d: đường kính mao quản; r: bán kính mao quản Hình 1.

Cấu trúc mao quản của THT e 10 Cấu trúc mao quản của THT theo kiểu phân nhánh (hình 1.3) và được đặc trưng bởi sự phân bố thể tích mao quản theo kích thước. Mỗi loại THT có chứa các loại mao quản có kích thước trong khoảng xác định. Sự hấp phụ trong mao quản nhỏ thường xảy ra theo cơ chế điền đầy thể tích (volume filling). Theo thuyết điền đầy thể tích, trường hấp phụ xảy ra trong tất cả thể tích mao quản nhỏ và xen phủ lẫn nhau, và sự hấp phụ lên bề mặt trong các mao quản nhỏ không theo quy luật điền từng lớp.

Bề mặt riêng của vi mao quản chiếm xấp xỉ 95% bề mặt riêng tổng cộng. Sự hấp phụ trong mao quản trung bình xảy ra theo cơ chế ngưng tụ mao quản. Bề mặt riêng của các mao quản trung bình chiếm khoảng ~5% bề mặt riêng tổng cộng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu sự hấp phụ của than hoạt tính siêu mịn trong luận văn thạc sĩ" trình bày một nghiên cứu chi tiết về khả năng hấp phụ của than hoạt tính siêu mịn, một vật liệu quan trọng trong lĩnh vực xử lý nước và không khí. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cơ chế hấp phụ mà còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất của quá trình này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về ứng dụng của than hoạt tính trong việc loại bỏ các chất ô nhiễm, từ đó nâng cao hiểu biết về công nghệ xử lý môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ công nghệ vật liệu nghiên cứu tách vàng khỏi dung dịch thiosulfate amoniac bằng than hoạt tính, nơi nghiên cứu ứng dụng của than hoạt tính trong việc tách vàng, hay Luận văn thạc sĩ khoa học điều chế và khảo sát khả năng tách loại asen của ôxit hỗn hợp fe mn, tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về khả năng xử lý ô nhiễm kim loại nặng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ công nghệ hóa học nghiên cứu chế tạo vật liệu nano gamma nhôm oxit yal2o3, một nghiên cứu liên quan đến vật liệu nano có tiềm năng trong ứng dụng môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các ứng dụng của vật liệu trong xử lý ô nhiễm.