phần mở đầu và phần kết luận, đề tài đƣợc chia thành các chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng I: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu lý thuyết sự hài lòng - Chƣơng II: Thiết kế nghiên cứu - Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu - Chƣơng IV: Kết luận và hàm ý chính sách 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Những tài liệu, đề tài đƣợc dùng để tham khảo trong đề tài bao gồm: * Tài liệu 1: “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ viễn thông di động Viettel tại Bình Định” - Luận văn ThS của tác giả Lê Thị Tuyết Trinh do PGS.TS Lê Thế Giới hƣớng dẫn khoa học. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm xác định những nhân tố ảnh hƣởng tới sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch 5 vụ viễn thông di động Viettel tại Bình Định. Đó là các nhân tố: Chất lượng cuộc gọi, Cấu trúc giá, Sự thuận tiện.
Trong đó, Sự thuận tiện là nhân tố tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của khách hàng, tiếp đến là Cấu trúc giá và cuối cùng là Chất lượng cuộc gọi. * Tài liệu 2: “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ truyền hình MyTV tại thành phố Đà Nẵng” - Luận văn ThS của tác giả Nguyễn Thị Thời Thế do TS Phạm Thị Lan Hƣơng hƣớng dẫn khoa học. Nghiên cứu đã xác định đƣợc mô hình các nhân tố thành phần có ảnh hƣởng đến sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ truyền hình MyTv thành phố Đà Nẵng, có tổng cộng 4 nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng theo các mức độ tác động khác nhau, đó là: Dịch vụ gia tăng có ảnh hƣởng lớn nhất, kế đến là Chất lượng dịch vụ cốt lõi, tiếp theo là Dịch vụ khách hàng và cuối cùng là Giá cả hợp lý có tác động nhỏ nhất đến Sự hài lòng khách hàng sử dụng dịch vụ truyền hình MyTv thành phố Đà Nẵng. * Tài liệu 3: “Nghiên cứu sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ mạng Vinaphone trên địa bàn TP.
Đà Nẵng” - Luận văn ThS tác giả Lê Thị Thúy do PGS.TS Nguyễn Thị Nhƣ Liêm hƣớng dẫn khoa học. Mục tiêu của đề tài là nhận dạng các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng khách hàng và xác định mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ thông tin di động mạng Vinaphone. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 03 yếu tố đó là: Chất lượng dịch vụ, Giá trị gia tăng và Thương hiệu & khuyến mãi. Tuy các yếu tố này có ảnh hƣởng đến sự hài lòng khách hàng nhƣng phần cảm nhận đánh giá của khách hàng không cao.
6 * Tài liệu 4: “Servqual hay Servperf – Một nghiên cứu so sánh trong ngành siêu thị bán lẻ Việt Nam” – Tác giả Nguyễn Huy Phong, Phạm Ngọc Thúy - Trƣờng Đại học Bách khoa, ĐHQG – TP HCM, tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, tập 10, số 08, 2007. Mục tiêu đề tài là so sánh hai mô hình đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ SERVQUAL và SERVPERF trong bối cảnh nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ tại các siêu thị bán lẻ Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu đƣợc giới hạn trong địa bàn TP. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, sử dụng mô hình SERVPERF sẽ cho kết quả chính xác hơn so với mô hình SERVQUAL.
Các phƣơng pháp phân tích đƣợc sử dụng trong việc giải quyết các mục tiêu của các đề tài trên nhƣ: Phân tích thống kê mô tả (Descriptive Statistics), phân tích nhân tố (Factor Analysis), phân tích bảng chéo (Cross-tabulation), phân tích hồi qui tƣơng quan (Regression Analysis). Qua nghiên cứu này, kết quả của các đề tài trên là cơ sở khoa học giúp cho đề tài hoàn thiện hơn nữa trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT SỰ HÀI LÕNG 1. Định nghĩa - Trong Kinh tế học: Dịch vụ đƣợc hiểu là những thứ tƣơng tự nhƣ hàng hóa nhƣng là phi vật chất.
- Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt. - Theo tiêu chuẩn ISO 9004: Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tƣơng tác giữa ngƣời cung cấp và khách hàng, cũng nhƣ nhờ các hoạt động của ngƣời cung cấp để đáp ứng nhu cầu khách hàng. - Theo Zeithaml & Britner (2000): Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. - Theo Kotler & Armstrong (2004): Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cung cấp cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.
Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hoá khác. Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lƣợng và không thể nhận dạng bằng mắt thƣờng đƣợc. Dịch vụ gồm các tính chất sau đây: - Tính vô hình (Intangibility): Một dịch vụ thuần túy không thể đƣợc đánh giá bằng cách sử dụng bất kỳ giác quan cơ thể nào trƣớc khi nó đƣợc 8 mua. Vì vậy, để giảm sự không chắc chắn, ngƣời mua sẽ tìm kiếm các bằng chứng của chất lƣợng dịch vụ từ những đối tƣợng họ tiếp xúc, trang thiết bị…mà họ thấy đƣợc.
- Tính không thể tách rời (Inseparability): Đặc thù của dịch vụ là đƣợc sản xuất và tiêu thụ đồng thời cùng một lúc. Nếu một ngƣời nào đó thuê dịch vụ thì bên cung cấp dịch vụ sẽ là một phần của dịch vụ, cho dù bên cung cấp dịch vụ là con ngƣời thật hay máy móc. Bởi vì khách hàng cũng sẽ có mặt lúc dịch vụ đƣợc cung cấp nên sự tƣơng tác giữa bên cung cấp dịch vụ và khách hàng là một đặc tính đặc biệt của marketing dịch vụ. - Tính hay thay đổi (Variability): Thể hiện ở đặc điểm chất lƣợng dịch vụ phụ thuộc vào ngƣời cung cấp dịch vụ, phụ thuộc vào thời gian, địa điểm và cách thức dịch vụ đƣợc cung cấp.
- Tính dễ bị phá vỡ (Perishability): Dịch vụ khác với các hàng hóa thông thƣờng ở chỗ nó không thể đƣợc cất giữ. Nói cách khác, dịch vụ nhạy cảm hơn các hàng hóa thông thƣờng khác trƣớc những thay đổi và sự đa dạng của nhu cầu. Khi nhu cầu thay đổi thì các công ty dịch vụ thƣờng gặp khó khăn chính vì vậy các công ty dịch vụ luôn phải tìm cách để làm cung và cầu phù hợp nhau. Sự khác nhau giữa dịch vụ và sản phẩm hữu hình Dịch vụ và sản phẩm hữu hình có những đặc điểm khác nhau nhƣ sau: - Tính vô hình: Sản phẩm của dịch vụ là sự thực thi.
Khách hàng không thể thấy, nếm, sờ, ngửi… trƣớc khi mua. - Tính đồng nhất: Gần nhƣ không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau. - Tính không thể tách rời: Quá trình cung ứng dịch vụ cũng là tiêu thụ dịch vụ, do vậy, không thể giấu đƣợc các sai lỗi của dịch vụ. 9 - Tính không lưu trữ: Dịch vụ không thể tồn kho.
Không thể kiểm tra chất lƣợng trƣớc khi cung ứng, ngƣời cung cấp chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc. - Tính không thể hoàn trả: Nếu khách hàng không hài lòng, họ có thể đƣợc hoàn tiền nhƣng không thể hoàn dịch vụ. - Nhu cầu bất định: Độ bất định nhu cầu dịch vụ cao hơn sản phẩm hữu hình nhiều. - Quan hệ qua con người: Vai trò con ngƣời trong dịch vụ rất cao và thƣờng đƣợc khách hàng thẩm định khi đánh giá dịch vụ.
- Tính cá nhân: Khách hàng đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình rất nhiều. - Tâm lý: Chất lƣợng dịch vụ đƣợc đánh giá theo trạng thái tâm lý của khách hàng. CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ 1. Định nghĩa Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã cố gắng định nghĩa và đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ trên các khía cạnh và mức độ khác nhau, nhƣng chƣa có định nghĩa thống nhất nào.
- Theo Lewis & Boom (1983): Chất lƣợng dịch vụ là một sự đo lƣờng mức độ dịch vụ đƣợc đƣa đến cho khách hàng có tƣơng xứng hay không với sự mong đợi một chất lƣợng tốt của các khách hàng. - Theo Zeithaml (1987): Chất lƣợng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về mức độ tuyệt vời hay hoàn hảo nói chung của một thực thể; nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ sự so sánh giữa những gì đƣợc mong đợi và nhận thức về những thứ mà khách hàng nhận đƣợc. 10 - Theo Parasuraman & ctg (1988, 1991): Chất lƣợng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của ngƣời tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ. - Theo Zeithaml & Britner (2000): Chất lƣợng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng, là những ngƣời đƣợc cung cấp dịch vụ, về mức độ tuyệt vời hay hoàn hảo nói chung của một thực thể; nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ sự so sánh giữa những gì đƣợc mong đợi và nhận thức về những thứ mà khách hàng nhận đƣợc.
- Theo Svensson (2002): Trong quá trình tiêu dùng dịch vụ, chất lƣợng dịch vụ thể hiện trong quá trình tƣơng tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ. Mô hình năm khoảng cách chất lƣợng dịch vụ Parasuraman & ctg (1985) là những ngƣời tiên phong trong nghiên cứu về chất lƣợng dịch vụ. Thành công của nghiên cứu tạo phƣơng tiện đột phá giúp các nhà kinh doanh có đƣợc kết quả chất lƣợng dịch vụ của họ thông qua việc nghiên cứu đánh giá của khách hàng. Nghiên cứu của Parasuraman (1985) cho rằng chất lƣợng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ mà họ đang sử dụng với cảm nhận thực tế về dịch vụ mà họ hƣởng thụ.
11 Dịch vụ kỳ vọng Khách Khoảng cách 5 hàng Dịch vụ cảm nhận Khoảng Khoảng cách 4 Thông tin cách 1 Dịch vụ chuyển giao đến khách hàng Khoảng cách 3 Tổ chức dịch vụ Chuyển đổi cảm nhận thành yêu cầu chất lƣợng Khoảng cách 2 Nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng Hình 1. Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ (Nguồn: Parasuraman, A.L (1985), “A conceptual model of service quality and its implications for future research”. Journal of Marketing, Vol.