CHƯƠNG 1 SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TRONG SỬ DỤNG DỊCH VỤ VÀ TẦM QUANG TRỌNG CỦA VIỆC ðÁP ỨNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG 1. LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Mô hình chỉ số hài lòng của khách hàng (CSI Model) CSI là chỉ số tổng hợp dựa trên bảng hỏi về 4 chỉ số thành phần (khả năng tiếp cận dịch vụ, khả năng ñáp ứng dịch vụ, chi phí sử dụng dịch vụ và cơ chế phản hồi, góp ý, khiếu nại, tố cáo) và mỗi chỉ số thành phần sẽ bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành bằng việc sử dụng tổng hợp nhiều thang ño, trong ñó thang ño Likert là phổ biến. Chỉ số hài lòng của khách hàng bao gồm các biến số ñặc trưng cho sản phẩm dịch vụ.
Xung quanh các biến số này là hệ thống các mối quan hệ nhân quả xuất phát từ những biến số khởi tạo như sự mong ñợi của khách hàng, hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm, chất lượng cảm nhận và giá trị cảm nhận về sản phẩm hoặc dịch vụ kèm theo ñến các biến số kết quả của sự hài lòng như sự trung thành hay sự than phiền của khách hàng. Mô hình hài lòng khách hàng của Parasuraman Năm 1985, Parasuraman và cộng sự ñã ñề xuất mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ ñược gọi là “Mô hình SERVQUAL”; trong ñó, chất lượng dịch vụ ñược ñịnh nghĩa là sự thỏa mãn nhu cầu hay mong ñợi của khách hàng. Theo ñó, chất lượng dịch vụ ñược xem là sự khác biệt giữa mong ñợi của khách hàng về dịch vụ và giá trị thụ hưởng từ dịch vụ; nếu giá trị dịch vụ ñược thụ hưởng lớn hơn giá trị mong ñợi thì chất lượng dịch vụ cao và ngược lại nếu giá trị dịch vụ ñược thụ hưởng nhỏ hơn giá trị mong ñợi thì chất lượng 10 dịch vụ thấp. Sự hài lòng của khách hàng có liên quan ñến chất lượng dịch vụ.
Nếu chất lượng dịch vụ cao, mức ñộ thỏa mãn vượt quá sự mong ñợi, khách hàng sẽ hài lòng; ngược lại nếu chất lượng dịch vụ thấp, mức ñộ thỏa mãn thấp hơn giá trị mong ñợi, khách hàng sẽ thất vọng. Mục tiêu của ñánh giá chất lượng dịch vụ là so sánh sự thay ñổi trong giá trị mong ñợi với giá trị thụ hưởng từ dịch vụ ñược cung ứng và xác ñịnh các yếu tố liên quan ñến sự khác biệt (khoảng cách). Sự kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ có ñộ chênh lệch một khoảng cách so với sự cảm nhận của họ về chất lượng dịch vụ ñó. Mô hình năm khoảng cách là mô hình mang tính tổng quát, mang tính chất lý thuyết về chất lượng dịch vụ.
ðể có thể thực hành ñược, Parasuraman và các cộng sự ñã cố gắng xây dựng thang ño dùng ñể ñánh giá chất lượng trong lĩnh vực dịch vụ, theo ñó bất kỳ dịch vụ nào chất lượng cũng ñược khách hàng cảm nhận dựa trên 10 thành phần, gồm có: (1) Tin cậy, (2) ðáp ứng, (3) Năng lực phục vụ, (4) Tiếp cận, (5) Lịch sự, (6) Thông tin, (7) Tín nhiệm, (8) An toàn, (9) Hiểu biết khách hàng, (10) Phương tiện hữu hình. Mô hình này có ưu ñiểm bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ, tuy nhiên tất cả mười thành phần của thang ño SERVQUAL quá phức tạp gây nên khó khăn trong việc ñánh giá và phân tích. Theo Parasuraman và các cộng sự (1988), ñánh giá chất lượng dịch vụ theo cảm nhận của khách hàng xuất phát từ việc so sánh cái mà khách hàng cảm thấy doanh nghiệp nên cung cấp (tức là sự mong ñợi của họ) và sự nhận thức của khách hàng về thành quả do doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ cho họ. Vì vậy, Parasuraman và các cộng sự (1988) ñã hiệu chỉnh lại và hình thành mô hình mới gồm năm thành phần cơ bản 1.
Mô hình nghiên cứu sự hài lòng khách hàng ServPerf Cronin và Taylor (1992) ñã nghiên cứu các khái niệm, phương pháp ño 11 lường chất lượng dịch vụ và mối quan hệ với sự hài lòng cũng như thiện chí mua hàng của khách hàng, từ ñó ñưa ra kết luận rằng yếu tố nhận thức là công cụ dự báo tốt hơn về chất lượng dịch vụ. Vấn ñề nghiên cứu: Vai trò của các giá trị trong việc xác ñịnh dịch vụ là gì? Giá trị ảnh hưởng thế nào ñến quyết ñịnh mua hàng? Cronin và Taylor (1992) cho rằng mức ñộ cảm nhận của khách hàng ñối với sự thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp phản ánh tốt nhất chất lượng dịch vụ. Theo mô hình ServPerf thì chất lượng dịch vụ chính là mức ñộ cảm nhận Cronin và Taylor (1992) với mô hình SERVPERF, cho rằng mức ñộ cảm nhận của khách hàng ñối với sự thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp phản ánh tốt nhất chất lượng dịch vụ. Theo mô hình SERVPERF thì: Chất lượng dịch vụ = Mức ñộ cảm nhận Kết luận này ñã ñược ñồng tình bởi các tác giả khác như Lee và cộng sự (2000), Brady và cộng sự (2002).
Bộ thang ño SERVPERF cũng sử dụng 22 mục phát biểu tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL, bỏ qua phần hỏi về kỳ vọng. Việc ño lường chất lượng dịch vụ theo mô hình SERVPERF của Cronin và Taylor ñược xem là một phương pháp thuận tiện và rõ ràng trong việc ño lường chất lượng dịch vụ dựa trên ño lường thông qua kết quả thể hiện của chất lượng dịch vụ. Cronin và Taylor lập luận rằng khung phân tích theo mô hình SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1985) dễ gây nhầm lẫn giữa sự hài lòng và thái ñộ của khách hàng. Các tác giả này cho rằng chất lượng dịch vụ có thể ñược ñịnh nghĩa “tương tự như một thái ñộ”, và thay vì “kết quả thực hiện theo như mong ñợi” thì “kết quả thực hiện thực tế” sẽ xác ñịnh chất lượng dịch vụ tốt hơn.
Theo ñó, chất lượng dịch vụ ñược ñánh giá chỉ thông qua nhận thức của khách hàng mà không có ñánh giá về chất lượng 12 dịch vụ trong sự kỳ vọng của khách hàng, không có trọng số cho từng thành phần chất lượng dịch vụ. SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ðỐI VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG NÓI CHUNG VÀ DỊCH VỤ INTERNET BANKING NÓI RIÊNG 1. khái niệm về dịch vụ Hiện nay có nhiều ñịnh nghĩa về dịch vụ ñược ñưa ra và theo các nhà nghiên cứu dịch vụ có thể hiểu là: “Dịch vụ là một hoạt ñộng hoặc là một chuỗi hoạt ñộng ít nhiều có tính chất vô hình thường, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ ñược cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn ñề của khách hàng” (Gronroos, 1990, dẫn theo Paul Lawrence Miner, 1998). “ Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt ñộng hậu ñài và các hoạt ñộng phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau.
Mục ñích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong ñợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng” (Bùi Nguyên Hùng, 2004). ðặc ñiểm của dịch vụ Dịch vụ trong nền kinh tế học ñược hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Dịch vụ có các ñặc tính sau: - Tính ñồng thời không thể tách rời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra ñồng thời, thiếu mặt này thì không thể có mặt kia. - Tính chất không ñồng nhất: không có chất lượng ñồng nhất, vì dịch vụ bắt nguồn từ sự khác nhau về tính chất tâm lý, trình ñộ của từng nhân viên, ngoài ra còn chịu sự ñánh giá cảm tính của từng khách hàng.
13 - Tính vô hình: Không có hình hài rõ rệt, không thấy trước ñược khi tiêu dùng dịch vụ do ñó khó hiểu ñược cảm nhận của khách hàng ñối với chất lượng dịch vụ. - Tính không lưu trữ ñược: không lập kho ñể lưu trữ như hàng hóa hữu hình ñược. Dịch vụ ñược ñịnh nghĩa theo tiêu chuẩn ISO năm 1994: Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt ñộng tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ hoạt ñộng của người cung cấp ñể ñáp ứng nhu cầu khách hàng. Dịch vụ ñược thực hiện sẽ khác nhau trong mỗi loại hình khác nhau, như dịch vụ cung cấp trong lĩnh vực du lịch khác trong lĩnh vực thư viện.
Tính không thể tách rời (Inseparability) Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra ñồng thời và sự tương tác giữa bên cung cấp và bên nhận dịch vụ có thể ảnh hưởng ñến chất lượng dịch vụ. Bằng cách ñáp ứng những nhu cầu trừu tượng của khách hàng như lắng nghe khách hàng, thông cảm, chia sẻ khi họ gặp vấn ñề khó khăn hay ñem ñến cho khách hàng nhiều sự lựa chọn khác nhau khi không thể ñáp ứng cái mà họ cần, người cung cấp dịch vụ có thể bỏ xa các ñối tượng cạnh tranh trong cuộc ñua về chất lượng dịch vụ. Mỗi khách hàng khi giao dịch với người cung cấp dịch vụ họ thường ñánh giá cao chất lượng dịch vụ của người cung cấp dịch vụ 1. Dịch vụ ngân hàng a.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng Cho ñến nay thì chưa có một khái niệm chuẩn hóa nào về dịch vụ Ngân Hàng. Có quan niệm cho rằng dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt ñộng nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng là một trung gian tài chính. Tuy nhiên cũng có nhiều quan ñiểm cho rằng tất cả các hoạt ñộng tín dụng, nhận tiền gửi, chuyển tiền … ñược cung ứng bởi Ngân 14 hàng ñều ñược coi là dịch vụ Ngân hàng. Theo ñó ta có thể khái quát dịch vụ ngân hàng ñược hiểu theo thông lệ quốc tế ñó là công việc trung gian về tiền tệ của các tổ chức nhằm ñáp ứng nhu cầu của khách hàng về sinh lời, ñầu tư, giữ hộ hay ñảm bảo an toàn, ñem lại nguồn thu phí cho các tổ chức cung ứng dịch vụ.
ðặc ñiểm dịch vụ ngân hàng Hoạt ñộng sản xuất cung ứng dịch vụ của Ngân Hàng không như các loại hình sản xuất Các hoạt ñộng của ngân hàng ñã chiếm ñược sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cũng như các nhà lập pháp bởi những hoạt ñộng ñó không chỉ có ý nghĩa ñối với bản thân ngân hàng mà còn có ý nghĩa ñối với nền kinh tế.