phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung đề tài gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Kết luận và hàm ý chính sách 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Liên quan đến việc nghiên sự hài lòng của khách hàng đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nƣớc mà tác giả đã tiến hành tham khảo nhƣ sau: - Một số tài liệu nghiên cứu về chất lƣợng dịch vụ: Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000. Chất lƣợng dịch vụ theo nghiên cứu (Lewis & Mitchell, 1990; Asubonteng & ctg, 1996; Wisniewski & Donnelly, 1996) là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng đƣợc nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng. Edvardsson, Thomsson & Ovretveit (1994) cho rằng chất lƣợng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng đƣợc sự mong đợi của khách hàng và làm thoả mãn nhu cầu của họ.
Theo (Lehtinen & Lehtine, 1982), chất lƣợng dịch vụ phải đƣợc đánh giá trên hai khía cạnh: quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ. Parasuraman & ctg (1985) cũng đƣa ra mô hình năm khoảng cách và năm thành phần chất lƣợng dịch vụ, gọi tắt là SERVQUAL… - Tài liệu về mối quan hệ giữa chất lƣợng dịch vụ và sự hài lòng. Hài lòng là phản ứng của ngƣời tiêu dùng khi đƣợc đáp ứng mong muốn 5 (Oliver,1997), là phản ứng của khách hàng về sự khác biệt giữa mong muốn và mức độ cảm nhận sau khi sử dụng sản phẩm/dịch vụ (Tse và Wilton, 1988). Nhƣ vậy, hài lòng là hàm của sự khác biệt giữa kết quả nhận đƣợc và kỳ vọng (Kotler, 2001).
Parasuraman và cộng sự (1993), cho rằng giữa chất lƣợng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng tồn tại một số khác biệt, điểm khác biệt cơ bản là vấn đề “nhân quả”. Còn Zeithalm & Bitner (2000) thì cho rằng sự hài lòng của khách hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố nhƣ: chất lƣợng sản phẩm, chất lƣợng dịch vụ, giá cả, yếu tố tình huống, yếu tố cá nhân. Tuy giữa chất lƣợng dịch vụ và sự hài lòng có mối liên hệ với nhau (Cronin và Taylor, 1992; Spreng & MacKoy, 1996) nhƣng có rất ít nghiên cứu tập trung vào việc kiểm tra mức độ giải thích của các thành phần chất lƣợng dịch vụ đối với sự hài lòng, đặc biệt cho từng ngành dịch vụ cụ thể (Lassar & cộng sự, 2000). Ngoài ra, yếu tố giá cả cũng cần đƣợc xem xét khi nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng (Spreng & Mackoy, 1996; Voss & cộng sự, 1998; Varki & Colgate, 2001).
Tuy nhiên, có nghiên cứu trƣớc tại Việt Nam về khách hàng siêu thị cho thấy yếu tố giá cả cảm nhận không tạo nên hiệu ứng trực tiếp tới lòng trung thành của khách hàng (Trang & Thọ, 2003). - Dƣới đây là một số mô hình nghiên cứu: + Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (American Customer Satisfaction Index – ACSI). Sự hài lòng của khách hàng đƣợc tạo thành trên cơ sở chất lƣợng cảm nhận, sự mong đợi và giá trị cảm nhận, nếu chất lƣợng và giá trị cảm nhận cao hơn sự mong đợi sẽ tạo nên lòng trung thành đối với khách hàng, trƣờng hợp ngƣợc lại, đấy là sự phàn nàn hay sự than phiền về sản phẩm mà họ tiêu dùng. + Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU (European Customer Satisfaction Index – ECSI).
Sự hài lòng của khách hàng là sự tác 6 động tổng hòa của 4 nhân tố hình ảnh, giá trị cảm nhận, chất lƣợng cảm nhận về cả sản phẩm hữu hình và vô hình. Thông thƣờng, chỉ số ACSI thƣờng áp dụng cho lĩnh vực công còn chỉ số ECSI thƣờng ứng dụng đo lƣờng các sản phẩm, các ngành. + Mô hình nghiên cứu về chỉ số hài lòng ở Việt Nam (VCSI). Theo Lê Văn Huy và cộng sự thì sự hài lòng của khách hàng sẽ bị chi phối bởi 7 biến số cụ thể sau: (1) Hình ảnh thƣơng hiệu; (2) Chất lƣợng mong đợi; (3) Chất lƣợng cảm nhận; (4) Giá trị cảm nhận; (5) Sự thỏa mãn của khách hàng; (6) Sự phàn nàn; (7) Lòng trung thành.
- Tham khảo các thang đo nhƣ: Thang đo SERVQUAL Parasuraman (1988), thang đo SERVQUAL đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ dựa trên sự cảm nhận bởi chính các khách hàng sử dụng dịch vụ và bất kỳ dịch vụ nào, chất lƣợng dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng có thể mô hình thành 10 thành phần, đó là: Tin cậy (reliability); Đáp ứng (Responsiveness); Năng lực phục vụ (Competence); Tiếp cận (access); Lịch sự (Courtesy);Thông tin (Communication; Tín nhiệm (Credibility); An toàn (Security); Hiểu biết khách hàng (Understanding customer); Phƣơng tiện hữu hình (Tangibles). Theo mô hình thì Chất lƣợng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – giá trị kỳ vọng. - Một số tài liệu do công ty Bảo Minh Đăk Nông cung cấp nhƣ: Tình hình hoạt động kinh doanh, thực trạng xây dựng và phát triển thƣơng hiệu của công ty,khách hàng , đối thủ cạnh tranh, phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của các loại hình bảo hiểm qua các năm và phƣơng thức tiếp cận khách hàng…. - Cùng một số tài liệu, luận văn của các tác giả nghiên cứu khác.
Các nghiên cứu trên là cơ sở cho quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ 1. Khái niệm dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ a.
Dịch vụ Có nhiều quan điểm và cách định nghĩa khác nhau về khái niệm dịch vụ. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Còn theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.
Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ đƣợc phát biểu dƣới những góc độ khác nhau nhƣng tựu chung thì chúng ta có thể coi: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con ngƣời. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) nhƣ hàng hoá nhƣng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội [9]. Chất lượng dịch vụ Chất lƣợng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận đƣợc. Chất lƣợng dịch vụ dựa vào sự nhận thức hay sự cảm nhận của khách hàng về những nhu cầu cá nhân của họ.
Theo Parasuraman Zeithaml và Berry (1985) thì chất lƣợng dịch vụ là khi cảm nhận của khách hàng về một dịch vụ đã tạo ra ngang xứng với kì vọng trƣớc đó của họ. Cũng theo Parasuraman thì kì vọng trong chất lƣơng dịch vụ là những mong muón của khách hàng, nghĩa là họ cảm thấy nhà cung câp phải thực hiện chứ không phải sẽ thực hiện các yêu cầu về dịch vụ. 8 Theo Hurbert ( 1995) thì trƣớc khi sử dụng một dịch vụ khách hàng đã hình thành nên một “kịch bản về chất lƣợng dịch vụ đó. Khi kịch bản của nhà của khách hàng và nhà cung cấp không giống nhau.
Khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng. Crolin và Tailor (1992) cho rằng sự hài lòng của khách hàng nên đánh giá trong một thời gian ngắn, còn chất lƣợng dịch vụ nên đánh giá theo thái độ của khách hàng về dịch vụ đó trong khoảng thời gian dài. Mục đích của việc nâng cao chất lƣợng dịch vụ Nếu nhƣ trƣớc kia, giá cả đƣợc coi là yếu tố quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó đã phải nhƣờng chỗ cho chỉ tiêu chất lƣợng dịch vụ và sản phẩm nhất là khi đời sống ngày càng đƣợc nâng cao. Trên thực tế, cạnh tranh bằng giá là “biện pháp nghèo nàn” nhất vì nó làm giảm lợi nhuận thu đƣợc, mà ngƣợc lại, cùng một loại sản phẩm, chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ nào tốt đáp ứng đƣợc yêu cầu thì ngƣời tiêu dùng cũng sẵn sàng mua với một mức giá có cao hơn một chút cũng không sao, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đang trong giai đoạn phát triển mạnh, đời sống của nhân dân đƣợc nâng cao rất nhiều so với trƣớc thì chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ phải đua lên hàng đầu.
Chất lƣợng chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ là một vấn đề sống còn đối với một doanh nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tƣ nhân khi mà họ đang phải đƣơng đầu với các đối với các đối thủ cạnh tranh khác. Một khi chất lƣợng chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ không đƣợc đảm bảo thì cũng có nghĩa là doanh nghiệp sẽ bị mất khách hàng, mất thị trung tâm, nhanh chóng đi tới chỗ suy yếu và bị phá sản. Một số mô hình đánh giá chất lƣợng dịch vụ a. Mô hình SERVQUAL (Parasuraman, 1988) Parasuraman là một trong những ngƣời đi tiên trong việc nghiên cứu về chất lƣợng dịch vụ.
Thành công của mô hình là một bƣớc đột phá lớn để các doanh nghiệp có thể áp dụng để nâng cao chất lƣợng dịch vụ. Việc đánh giá 9 chất lƣợng phải đƣợc thông qua sự cảm nhận của khách đó chính là những ngƣời sử dụng những dịch vụ của doanh nghiệp. Sự hữu hình (Tangibles) Sự tin cậy (Reliability) Sự hài lòng của khách Sự phản hồi (esponsiveness) hàng (Satisfaction) Sự đảm bảo (Assurance) Sự đồng cảm (Empathy) Hình 1. Mô hình SERVQUAL (Parasuraman, zeithaml & berry,1988) Dựa trên định nghĩa truyền thống về chất lƣợng dịch vụ, Parasuraman đã xây dựng thang đo SERVQUAL để đánh giá chất lƣợng dịch vụ gồm 22 biến thuộc 5 thành phần để đo lƣờng chất lƣợng kỳ vọng và dịch vụ cảm nhận[12].
(1) Sự hữu hình (Tangibles) Sự hữu hình chính là hình ảnh bên ngoài của các cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc, phong thái của đội ngũ nhân viên, tài liệu, sách hƣớng dẫn và hệ thống thông tin liên lạc.