CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ a. Khái niệm Có rất nhiều định nghĩa của các tác giả khác nhau, có thể lấy một số thí dụ như sau: dịch vụ là những hành vi, quá trình và việc thực hiện nhằm mục đích tạo giá trị sử dụng cho khách hàng, thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng (Zeithaml, V. Dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà bên này cống hiến cho bên kia, mà về cơ bản nó vô hình và không dẫn đến sự sỡ hữu bất kì thứ gì (theo Philip Kotler, 2001)[8].
Nhìn chung, dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Trong thực tế, sản phẩm chào bán của một doanh nghiệp có thể trải rộng từ một mặt hàng thuần túy cho đến một dịch vụ thuần túy. Với mặt hàng cụ thể thuần túy như xà phòng, kem đánh răng hay muối ăn, thì không cần có dịch vụ đi kèm.
Một mặt hàng cụ thể kèm dịch vụ là mặt hàng cộng thêm một hay nhiều dịch vụ để tăng khả năng thu hút khách mua, nhất là đối với các sản phẩm hữu hình có công nghệ chế tạo và sử dụng phức tạp. Ví dụ, nhà sản xuất xe hơi bán xe hơi kèm theo dịch vụ bảo hành, chỉ dẫn sử dụng và bảo trì, giao hàng theo ý khách mua. Các dịch vụ này có thể do nhà sản xuất cung cấp hay thuê qua một trung 8 gian chuyên kinh doanh dịch vụ đó. Một mặt hàng gồm một dịch vụ chính kèm theo những mặt hàng và dịch vụ nhỏ hơn.
Ví dụ, khách đi máy bay là mua một dịch vụ chuyên chở. Nhưng chuyến đi còn bao hàm một số món hàng cụ thể như thức ăn, đồ uống và một tạp chí của hãng hàng không. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có các đặc trưng cơ bản khác với sản phẩm hữu hình khác như tính vô hình, tính không thể tách rời khỏi nguồn gốc, tính không ổn định về chất lượng, tính không lưu giữ được. · Tính vô hình (Intangibility): phần lớn dịch vụ được xem là sản phẩm vô hình.
Dịch vụ không thể cân đo, đong đếm, kiểm định trước khi kiểm tra chất lượng. Với lí do là tính vô hình nên các nhà quản lí rất khó để tạo ra sự nhận thức của khách hàng về hàng hóa của họ. · Tính không thể tách rời (Inseparability): quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời. Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia; do đó không thể giấu được các lỗi của dịch vụ.
· Tính chất không đồng nhất (Variability): dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, từ nhân viên cho đến các chính sách thực thi, môi trường hỗ trợ, công cụ, thời gian, không gian…. do đó rất khó kiểm soát được chất lượng dịch vụ. Vì thế dịch vụ không có chất lượng đồng nhất. · Không lưu trữ được (Perishability): dịch vụ không thể tồn kho, không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác, không thể kiểm tra chất lượng trước khi cung ứng, người cung cấp chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc.
Dịch vụ giáo dục Theo Vũ Quang Việt (2007), giáo dục là sản phẩm đặc biệt theo nghĩa nó 9 là phương tiện để nhằm tăng sản xuất ra của cải trong tương lai. Giáo dục cũng có những điểm chung giống như tất cả các dịch vụ tiêu dùng cá nhân khác là sản phẩm vô hình, có thể tiêu dùng ngay nhưng lại có thêm một số đặc điểm mà các dịch vụ khác không có. Nó có thể “tồn kho” vào tri thức cá nhân, trở thành vốn tri thức. Nó lại có thuộc tính xã hội mà các hàng hoá và dịch vụ (gọi chung là sản phẩm) cá nhân khác không có, và được xếp vào loại hàng hoá có tính chất công.
Theo Cuthbert (1996a), giáo dục cấp cao là một dịch vụ vì nó có những đặc trưng kinh điển của dịch vụ. (Cuthbert 1996a, dẫn theo C. Vrana, 2008) Việc xem giáo dục có phải là hàng hóa hay không? hay có hay không có thị trường giáo dục? là những câu hỏi lớn của nền giáo dục Việt Nam , nhiều hội thảo, tranh luận vấn đề trên đã diễn ra. Tại buổi tọa đàm (2004) “Giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng XHCN” do Ban Khoa giáo Trung ương tổ chức, GS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục cho rằng, không thể coi giáo dục là hàng hóa.
Trong khi đó, GS Phạm Phụ (Đại học Bách khoa TPHCM) lại cho rằng giáo dục chính là hàng hóa. Trung dung giữa hai luồng ý kiến trên, đa số các đại biểu dự tọa đàm thống nhất phải chống những hiện tượng tiêu cực trong thương mại hóa giáo dục nhưng không thể phủ nhận một thị trường giáo dục đã hình thành ở Việt Nam. Đại diện cho Bộ GD-ĐT, Thứ trưởng Bành Tiến Long nêu ý kiến: “Giáo dục có phải là hàng hóa hay không, cần phải tranh luận, nhưng không thể không tính đến các yếu tố tác động của cơ chế thị trường. Tác động tích cực của nó là “quy luật cung cầu”, đòi hỏi chất lượng sản phẩm, từ đó thúc đẩy cạnh tranh”.
Vụ phó Vụ Giáo dục (Ban Khoa giáo trung ương) - TS Nguyễn Hữu Chí- khẳng định “không nên bỏ qua yếu tố thị trường giáo dục” 10 khi “trong thực tiễn có xu hướng thương mại hóa giáo dục, người dân có sẵn sàng chi trả cao để thụ hưởng nền giáo dục tốt và không tiếc tiền đi du học nước ngoài”. Với chủ trương xã hội hóa giáo dục hiện nay của Nhà nước, giáo dục không còn là một hàng hóa công thuần túy và dần dần có nhiều tính chất quan trong của một hàng hóa tư nhân. Giáo dục ngoài công lập đã từng bước hình thành các dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng về chất lượng của người học. Tuy vậy, Giáo dục công lập vẫn chủ yếu mang tính phục vụ là chính.
Tuy còn nhiều tranh cãi, chưa thống nhất nhưng thực tế cho thấy rằng các trường học, với phương châm lấy người học làm trung tâm, nên coi học viên là đối tượng phục vụ, còn về phía người học, nhiều học viên đã coi dịch vụ đào tạo như là hàng hóa, theo nghĩa chính họ là người cần được quan tâm và phục vụ. Họ có quyền lựa chọn cho mình một trường học có chất lượng dịch vụ tốt và cung cấp dịch vụ có chất lượng theo cảm nhận riêng của họ 1.2 Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ chính là yếu tố quyết định thành công, giúp cho khách hàng thỏa mãn, hài lòng. Chất lượng càng cao thì độ hài lòng càng cao, giúp khách hàng có xu hướng quay trở lại sử dụng dịch vụ. Do đó, chất lượng dịch vụ rất được xem trọng khi doanh nghiệp cung ứng cho khách hàng.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về chất lượng dịch vụ, chẳng hạn: · Các nhà nghiên cứu Lehtinen & Lehtinen (1982)[23] cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh chủ yếu là quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ. · Còn nhà nghiên cứu Gronroos (1984)[19]thì lại đưa ra hai lĩnh vực để đánh giá chất lượng dịch vụ là chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng: 11 - Chất lượng kỹ thuật đó là những giá trị mà khách hàng thực sự cảm nhận được xuất phát từ những giá trị do yếu tố kỹ thuật công nghệ mang lại ví dụ như giải pháp kỹ thuật, máy móc, hệ thống vi tính hóa ở cơ sở đó… - Chất lượng chức năng bao gồm phương cách phân phối, người cung cấp dịch vụ qua thái độ, quan hệ bên trong công ty, hành vi, tinh thần phục vụ, sự biểu hiện bên ngoài, sự tiếp cận và tiếp xúc khách hàng. Nhìn chung, chất lượng cảm nhận của khách hàng bị ảnh hưởng bởi sự so sánh giữa các mong đợi và mức độ khách hàng đã nhận được. Tuy nhiên, có lẽ Parasuraman & các cộng sự (1985)[29] là những người đưa ra mô hình 05 khoảng cách chất lượng dịch vụ được các nhà nghiên cứu khác trên thế giới chấp nhận và sử dụng nhiều nhất.
Mô hình này được trình bày ở hình sau: Thông tin chuyển Khoảng cách 4 Kinh nghiệm trong quá khứ Khoảng Khoảng Khoảng cách 5 cách 3 cách 2 Sự kỳ Sự cảm Chuyển Tiêu chí chất lượng dịch Nhận thức của Nhu cầu cá vọng nhận giao dịch vụ được chuyển đổi từ công ty về kỳ vọng nhân của khách hàng dịch vụ dịch vụ cảm nhận của doanh nghiệp vụ Thông tin Khoảng từ các cách 1 nguồn khác KHÁCH NHÀ CUNG HÀNG ỨNG Hình 1.1: Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ ( Nguồn: Parasuraman & các cộng sự, 1985[29] 12 Khoảng cách 1: Là sai biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và cảm nhận của nhà cung cấp dịch vụ về kỳ vọng đó. Sự diễn dịch kỳ vọng của khách hàng khi không hiểu thấu đáo các đặc trưng chất lượng dịch vụ, đặc trưng khách hàng tạo ra sai biệt này. Khoảng cách 2: được tạo ra khi nhà cung cấp gặp các khó khăn, trở ngại khách quan lẫn chủ quan khi chuyển các kỳ vọng được cảm nhận sang các tiêu chí chất lượng cụ thể và chuyển giao chúng đúng như kỳ vọng. Các tiêu chí này trở thành các thông tin tiếp thị đến khách hàng.
Khoảng cách 3: hình thành khi nhân viên chuyển giao dịch vụ cho khách hàng không đúng các tiêu chí đã định. Vai trò nhân viên giao dịch trực tiếp rất quan trọng trong tạo ra chất lượng dịch vụ. Khoảng cách 4: là sai biệt giữa dịch vụ chuyển giao và thông tin mà khách hàng nhận được. Thông tin này có thể làm tăng kỳ vọng nhưng có thể làm giảm chất lượng dịch vụ cảm nhận khi khách hàng không nhận đúng những gì đã cam kết.
Khoảng cách 5: hình thành từ sự khác biệt giữa chất lượng cảm nhận và chất lượng kỳ vọng khi khách hàng tiêu thụ dịch vụ. Parasuraman và các cộng sự (1985)[29] cho rằng chất lượng dịch vụ chính là khoảng cách thứ năm. Khoảng cách này lại phụ thuộc vào 4 khoảng cách trước. GIÁ TRỊ CẢM NHẬN 1.
Khái niệm Các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để định nghĩa “giá trị cảm nhận” của khách hàng.