phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự hài lòng của khách hàng Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu về sự hài lòng của khách hang cá nhân đối với dịch vụ ngân hang điện tử tại ngân hàng TMCP Công Thƣơng- Chi nhánh Đà Nẵng. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu về sự hài lòng của khách hang cá nhân đối với dịch vụ ngân hang điện tử tại ngân hàng TMCP Công Thƣơng- Chi nhánh Đà Nẵng. Chƣơng 4: Kết luận và hàm ý chính sách 4 6. Tổng quan tài liệu Dịch vụ ngân hàng điện tử là một trong những ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại đã đƣợc ứng dụng rất phổ biến trên thế giới.
Với khả năng xử lý thông tin trực tuyến, dịch vụ này mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng và tiện ích cho khách hàng. Đối với ngân hàng, dịch vụ ngân hàng điện tử giúp giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh, vốn tiền tệ luân chuyển nhanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gia tăng số lƣợng dịch vụ, bán chéo sản phẩm, tăng thu nhập ngoại lãi, tiếp cận với các phƣơng pháp quản lý hiện đại… Đối với khách hàng, dịch vụ ngân hàng điện tử giúp tiết kiệm thời gian, tính năng bảo mật cao, hạn chế nhiều rủi ro trong giao dịch, cập nhật thông tin nhanh nhất…. Hiện nay, phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử trở thành yếu tố quan trọng trong tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Sự hài lòng của KH đƣợc xem nhƣ là chìa khóa để thành công cho các DN trong môi trƣờng kinh doanh cạnh tranh gay gắt nhƣ hiện nay.
Việc làm KH hài lòng đã trở thành một tài sản quan trọng đối với các DN, để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của DN. Thực tế kinh doanh cho thấy, một DN nếu gia tăng đƣợc 5% KH trung thành nhờ sự hài lòng của họ về sản phẩm, dịch vụ, thì lợi nhuận sẽ tăng lên đƣợc khoảng 25% đến 85% (Lê Văn Huy, 2007). Vì thế tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu về “ Sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ của ngân hàng điện tử” và tham khảo nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan nhƣ sau: Luận văn “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp đối với chất lƣợng dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh thành phố Đà Nẵng” của tác giả Phạm Sỹ Hùng (2010) đã đi sâu vào việc xác định các mong đợi của khách hàng đối với ngân hàng và các nhân tố thuộc chất lƣợng dịch vụ tác động đến sự hài lòng của KH doanh nghiệp đối với các dịch vụ đang cung ứng tại chi nhánh. Kết quả 5 nghiên cứu cho thấy có sáu nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp đối với chất lƣợng dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh thành phố Đà Nẵng, đó là: sự thuận tiện, sự hữu hình, phong cách phục vụ, cạnh tranh về giá, sự tín nhiệm và hình ảnh doanh nghiệp.
Đồng thời qua những nghiên cứu trên, luận văn đề xuất một số biện pháp nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đối với các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng của chi nhánh. Thứ nhất, khách hàng mong muốn nhiều nhất là AGRIBANK thực hiện dịch vụ chính xác, nhanh chóng và giá cả cạnh tranh. Thứ hai, các nhân tố tác động đến sự hài lòng khách hàng bao gồm chất lƣợng dịch vụ (phong cách phục vụ, sự thuận tiện, sự tín nhiệm, sự hữu hình), giá cả dịch vụ, và hình ảnh doanh nghiệp. Thứ ba, mức độ hài lòng của khách hàng đối với AGRIBANK ĐÀ NẴNG là rất cao trên cả 3 phƣơng diện về chất lƣợng dịch vụ, khả năng đáp ứng nhu cầu, và tiếp tục sử dụng dịch vụ AGRIBANK.
Sự hài lòng của khách hàng là kết quả tạo nên của nhiều yếu tố. Vì vậy, công việc đem đến sự hài lòng của khách hàng cần phải thực hiện thƣờng xuyên và lâu dài. Tuy nhiên, nghiên cứu này còn một số hạn chế nhƣ là chỉ xem xét đến thời gian sử dụng và số lần ngân hàng giao dịch, chƣa tìm hiểu hết sự hài lòng của khách hàng trong mối liên hệ với ngành nghề kinh doanh, tiềm lực tài chính và yếu tố khác….Chỉ tập trung vào những khách hàng sử dụng SPDV tại AGRIBANK Đà Nẵng nên chƣa thể đánh giá về khách hàng trên địa bàn thành phố và ở những địa phƣơng khác cũng nhƣ những khách hàng tiềm năng chƣa sử dụng dịch vụ ngân hàng. Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thúy Phƣợng, “Nâng cao sự hài lòng khách hàng về thẻ Connect24 của Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng – Chi nhánh TP.HCM, đã đánh mức độ hài lòng của khách hàng về thẻ 6 Vietcombank Connect24, các nhân tố tác động đến mức độ hài lòng của khách hàng và đƣa ra các biện pháp nhằm nâng cao sự hài lòng cho khách hàng về thẻ Connect24 cho ngân hàng.
Kết quả kiểm định thang đo cho thấy các thang đo đều đạt độ tin cậy và giá trị cho phép. Tuy nhiên từ sáu thành phần ban đầu thì có bốn thành phần là có tác động ý nghĩa đến sự hài lòng trong đó hai yếu tố là tài sản hữu hình và độ tiếp cận gộp lại thành một. Bốn yếu tố đó là: (1) kỹ năng nhân viên, (2) độ tin cậy, (3) tài sản hũu hình và độ tiếp cận, và (4) an toàn khi giao dịch tại máy ATM. Nguyễn Thị Phƣơng Trâm (2008 với nghiên cứu “Chất lƣợng dịch vụ NHĐT - so sánh giữa mô hình SERVQUAL và GRONROSS đã điều chỉnh và bổ sung các thành phần của chất lƣợng dịch vụ ngân hàng điện tử, kiểm định và so sánh mối quan hệ giữa chất lƣợng dịch vụ ngân hàng điện tử và sự thỏa mãn của khách hàng theo mô hình SERVQUAL và mô hình Chất lƣợng kỹ thuật/ Chất lƣợng chức năng.
Sau khi đã điều chỉnh và bổ sung các thành phần thang đo, kết quả của đo lƣờng cho thấy các thang đo của hai mô hình Chất lƣợng SERVQUAL và mô hình Chất lƣợng kỹ thuật/ Chất lƣợng chức năng đều đạt độ tin cậy và giá trị cho phép. Nghiên cứu này đã xác định đƣợc các thành phần ảnh hƣởng đến sự thỏa mãn của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ ngân hàng điện tử theo mô hình SERVQUAL và mô hình Chất lƣợng kỹ thuật/ Chất lƣợng chức năng. Mô hình SERVQUAL có hai thành phần ảnh hƣởng đến chất lƣợng dịch vụ ngân hàng điện tử, đó là thành phần đáp ứng và năng lực phục vụ và thành phần phƣơng tiện hữu hình, trong đó thành phần phƣơng tiện hữu hình tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ nhiều hơn thành phần đáp ứng và năng lực phục vụ. Mô hình Chất lƣợng chức năng/ Chất lƣợng kỹ thuật có 2 thành phần chất lƣợng chức năng và chất lƣợng kỹ thuật ảnh hƣởng đến sự thỏa mãn của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ ngân hàng 7 điện tử, trong đó thành phần chất lƣợng kỹ thuật tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng về dịch vụ nhiều hơn thành phần chất lƣợng chức năng.
Sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng nói chung và đối với dịch vụ ngân hàng nói riêng, luôn là vần đề đƣợc các ngân hàng quan tâm. Dựa trên nền tảng thang đo của mô hình nghiên cứu này để tham khảo xây dựng thang đo cho nghiên cứu của tác giả nhằm xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng TMCP Công Thƣơng Đà Nẵng. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả cũng đã tham khảo thêm nguồn tài liệu mang tính tổng quát, đa dạng hơn bao gồm : báo chí, internet, tạp chí … nhƣ : Philip Kotler (2002), Marketing căn bản, NXB Thống kê, Hồ Chí Minh; Nguyễn Huy Phong, Phạm Ngọc Thúy (2007), “Servqual hay Servperf - một nghiên cứu so sánh trong ngành siêu thị bán lẻ Việt Nam”, Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ, Tập 10, số 8, hay nghiên cứu của Lê Văn Huy, Phạm Thị Thanh Thảo (2008), “Hợp nhất đo lƣờng và ƣu tiên cải tiến chất lƣợng dịch vụ: Nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực ngân hàng”, Tuyển tập báo cáo hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học, Lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng … 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNGĐỐI VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh.Có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ nhƣng theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000) thì “dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”.
Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác nhƣ tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lƣợng và không thể nhận dạng bằng mắt thƣờng đƣợc. Tính vô hình Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một cách cụ thể nhƣ đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Khi mua sản phẩm vật chất, khách hàng có thể yêu cầu kiểm định, thử nghiệm chất lƣợng trƣớc khi mua, nhƣng sản phẩm dịch vụ thì không thể tiến hành đánh giá nhƣ thế.
Do tính chất vô hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng thử” nhƣ sản phẩm vật chất, chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lƣợng dịch vụ một cách đúng đắn nhất. Tính không đồng nhất Đặc tính này còn đƣợc gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực 9 hiện dịch vụ thƣờng khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, ngƣời phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tƣợng phục vụ và địa điểm phục vụ. Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ “cao cấp”, “phổ thông” đến “thứ cấp”.
Vì vậy, việc đánh giá chất lƣợng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vào một thƣớc đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trƣờng hợp cụ thể.