Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thông tin di động Vinaphone tại Đà Nẵng. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4: Kết luận, các hàm ý, hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cho các tập đoàn đang kinh doanh dịch vụ thông tin di động trên địa bàn Đà Nẵng nói chung và tập đoàn VNPT tại Đà Nẵng nói riêng có được thông tin thực tế về các nhân tố có thê tác động đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ thông tin di động. Kết quả nghiên cứu này làm cơ sở cho tập đoàn VNPT Đà Nẵng tham khảo để hoạch định chiến lược kinh doanh của mình và hình thành các chiến lược Marketing cho dịch vụ thông tin di động Vinaphone. Giúp tập đoàn VNPT Đà Nẵng tập trung tốt hơn trong việc hoạch định cải thiện chất lượng dịch vụ thông tin di động Vinaphone và phân phối các nguôn lực, cũng như kích thích nhân viên đẻ cải thiện chất lượng dịch vụ tốt hơn. Tong quan tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng là chủ đề mà được rất nhiều nhà quản trị cũng như các nhà nghiên cứu Marketing đặc biệt quan tâm.
thông tin, truyền hình cũng không nằm ngoại lệ. Do vậy, trên thế giới cũng như trong nước, nghiên cứu sự hài lòng về dịch vụ và sự hài lòng về lĩnh vực thông tin, truyền hình được nhiều nhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu. Cụ thê: Mô hình chất lượng dịch vụ của Prasuraman & ctg (1985): Đây là mô hình được ứng dụng trong nghiên cứu chất lượng các sản phẩm dịch vụ. Mô hình chất lượng dịch vụ của Prasuraman & ctg (1985) cho ta bức tranh tổng thể it lượng dịch vụ.
Parasuraman & ctg (1985) cho rằng, bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng có thẻ mô tả thành 10 thành phần. Mô hình mười thành phần chất lượng dịch vụ có ưu là bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ. Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là phức tạp trong việc đo lường, đánh giá và phân tích. Hơn nữa mô hình này mang tính lý thuyết, có thể sẽ có nhiều thành phần của mô hình chất lượng dịch vụ không đạt được giá trị phân biệt.
Chính vì vậy các nhà nghiên cứu này đã nhiều lần kiểm định mô hình này và đi đến kết luận là chất lượng dịch vụ bao gồm năm thành phần cơ bản, đó là: Mức độ tin cậy, Khả năng đáp ứng, Phương tiện hữu hình, Năng lực phục vụ, Sự đồng cảm. Mô hình nghiên cứu những ảnh hưởng của sự hài lòng của khách hàng và rào cản chuyển đỗi đối với lòng trung thành của khách hàng trong các dịch vụ thông tin di động Hàn Quốc trong ngành thông tin di động của M-K.Kim và cộng sự: Viéc kiém dinh cho thay rằng sự hài lòng của khách hàng được đo lường, dựa trên năm nhân tố: chất lượng dịch vụ, giá cả dịch vụ, sự thuận tiện, các dịch vụ gia tăng và dịch vụ khách hàng. Điều này củng có thực tế là chất lượng cuộc gọi của dịch vụ thông tin di động là vấn đề hàng đầu trực tiếp tạo ra sự hài lòng của khách hàng đối với các thuê bao di động. Nó cũng nhắn mạnh sự tăng trưởng liên tục về tầm quan trọng của các dịch vụ gia tăng, bao gồm Internet di động, các dịch vụ đa phương tiện, điện thoại camera, khi công nghệ thông tin di động.
Dịch vụ hỗ trợ khách hàng để giúp giải quyết sự không hài lòng hoặc thắc mắc của khách hàng khi lần đầu gặp phải cũng rất quan trọng đề tạo sự hài lòng của khách hàng Mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng: Bằng chứng thực nghiệm trong ngành viễn théng 6 Pakistan cia Muhammad Ishtiaq Ishaqa - Department of Management Science, Global Institute Lahore, Pakistan: Nghiên cứu đã sử dụng thang đo SERQUAL để xác định chất lượng dịch vụ trong ngành viễn thông. Sau khi phát ra 350 bảng câu hỏi thì có 285 bảng câu hỏi được thu thập về với tỷ lệ đáp ứng 81%. Trong nghiên cứu này, tất cả sáu yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng trong ngành viễn thông. Nghiên cứu này cho thấy rằng ba nhân tố của chất lượng dịch vụ (dịch vụ giá trị gia tăng, dịch vụ khách hàng và hệ thống giá) có tác động tích cực đối với sự hài lòng của khách hàng.
Những phát hiện này có sử dụng thiết thực cho công tác quản lý để cải thiện và thực hiện các thực hành tốt nhất, mà sẽ dẫn hài lòng khách hàng trung thành Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của sự hài lòng khách hàng đến lòng, trung thành của khách hàng: Nghiên cứu trong ngành công nghiệp viễn thông di động của Md. Motaher Hossain and Nusrat Jahan Suchy: Dữ liệu của nghiên cứu này được thu thập dựa trên 150 người dùng điện thoại di động. Nghiên cứu này đã thử nghiệm sáu nhân tố: truyền thông, cấu trúc giá, dịch vụ gia tăng, sự tiện ích, khuyến mãi và dịch vụ khách hàng để xác định lòng trung thành của khách hàng trong thị trường viễn thông của Bangladesh. Kết quả của việc kiểm định cho thấy rằng truyền thông, cấu trúc giá, dịch vụ gia tăng, sự tiện ích và dịch vụ khách hàng đang tác động tích cực đến lòng trung thành của khách hàng.
Nghiên cứu tiết lộ rằng doanh số bán hàng, khuyến mãi là không liên quan đến sự trung thành của khách hàng. Nghiên cứu giải pháp nâng cao thị phần của nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động mạng Vinaphone đối với nhóm khách hàng sinh viên Đại học Huế - Tôn Nữ Ái Liên, Trường Đại học Kinh tế Huế, Việt Nam: Nghiên cứu dựa trên mô hình 5 thành phần chất lượng dịch vụ của Parasuraman & cộng sự (1985,1988). Dữ liệu được thu thập vào năm 2013, đối tượng khảo sát là 180 sinh viên của các trường trực thuộc Đại học Huế. Mô hình được đề xuất cho việc nghiên cứu gồm năm nhân tố tác động đến sự hài lòng, đó là: Phương tiện hữu hình, Sự tin cậy, Sự đáp ứng, Sự đảm bảo, Sự cảm thông.
Sau khi phân tích, mô hình được hiệu chỉnh với bốn nhân tố: Sự đảm bảo, Phương tiện hữu hình, Chất lượng dịch vụ mạng và Uy tín nhà mạng tác động đến sự hài lòng của khách hàng đối với mạng Vinaphone. Qua điều tra cho thấy phần lớn khách hàng không chọn mạng Vinaphone để sử dụng nhưng những khách hàng sử dụng mạng Vinaphone đều khá hài lòng với chất lượng dịch vụ mà Vinaphone cung cấp. Nghiên cứu cho thấy để nâng cao sự hài lòng và sự trung thành của khách hàng một cách hiệu quả nhất thì nên đầu tư vào việc tăng cường chất lượng dịch vụ để đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách hàng. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CUA VAN DE NGHIEN CỨU SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐÓI VỚI DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG VINAPHONE TẠI ĐÀ NẴNG 1.
Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là những hoạt động hoặc là chuỗi hoạt động mà thông thường ít hoặc nhiều chúng ta không thể sờ thấy về mặt tự nhiên được, nhưng không nhất thiết, xảy ra sự tác động qua lại giữa một bên là khách hàng và một bên là người cung cấp dịch vụ và/hoặc tiềm lực về mặt vật lý của sản phẩm và/hoặc hệ thống người cung cấp mà nó được cung cấp như là những giải pháp cho vấn đề của người tiêu dùng (Gronroos, 1990). Dịch vụ khác với sản phẩm kiểu mẫu hơn là hàng hoá (Foxall, 1985). Điều này bắt nguồn từ ba phương diện cơ bản dẫn đến dịch vụ khác với hàng hoá ở chỗ làm cách nào để được sản xuất, được tiêu thụ và được định giá Dịch vụ, kết hợp với sản xuất hàng hoá, là sự trải nghiệm và đánh giá từ khách hàng những người mà họ có mục tiêu cụ thể và động cơ chỉ phối dịch vụ. Dịch vụ là có thể nhận biết, tính hữu hình của hoạt động cũng là mục tiêu chính của sự thực hiện theo cách nhằm cung cấp sự thoả mãn mong muốn của khách hàng (Walker, 1990).Đặc tính của dịch vụ Theo Bùi Quốc Việt (2002), dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hoá khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cắt trữ.
Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. [8] > Tinh vo hinh Không giống như những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi người ta mua chúng. Đề giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy.
Với lý do là vô hình nên công ty cảm thấy khó khăn trong việc nhận thức như thế nào về dịch vụ và đánh giá chất lượng, dịch vụ (Robinson, 1999). > Tinh không đồng nhất Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Đặc tính này thể ién rd nhất đối với các dịch vụ bao hàm sức lao động cao.
Việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên sẽ rất khó đảm bảo (Caruana & Pitt, 1997). Lý do là những gì công. ty dự định phục vụ thì có thể hoàn toàn khác với những gì mà người tiêu ding nhận được. > Tinh khong thé tach ri Tính không tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng.
Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời. Điều này không đúng đối với hàng hoá vật chấtđược sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nắc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Đối với sản phẩm hang hoá, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốthoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.