CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Chất lượng và quản lý chất lượng trong doanh nghiệp 1. Khái niệm chất lượng Chất lượng là khái niệm vừa trừu tượng vừa cụ thể và là cái đẹp. Doanh nghiệp, nhà quản lý, khách hàng đều hiểu chất lượng dưới góc độ của riêng mình.
Do đó rất khó định nghĩa chất lượng đúng và đầy đủ nhất. Có nhiều định nghĩa về chất lượng, sau đây là một số định nghĩa phổ biến và nổi bật: Theo Tiêu chuẩn Việt Nam ISO 8402:1999 đã định nghĩa chất lượng là toàn bộ các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và đã dự định, đồng thời, thực thể là đối tượng có thể được mô tả và xem xét một cách riêng biệt. Hoặc theo góc độ phổ thông, chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác Ngoài ra, khi xem xét theo hướng hẹp hơn trong phạm vi tổ chức, có thể coi chất lượng sản phẩm và dịch vụ của tổ chức được xác định bằng khả năng thỏa mãn khách hàng và ảnh hưởng mong muốn và không mong muốn tới các bên quan tâm liên quan Xét trên khía cạnh rộng hơn, Bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 (1987) quy định: “Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các tính chất đặc trưng của thực thể có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hay tiềm ẩn”. Khái niệm này chính là khái quát các khái niệm đã nêu trên ở mức cao hơn.
Hoặc tác giả Nguyễn Đình Phan (2012) đã khẳng định rằng: “Chất lượng là sự đáp ứng và vượt mong đợi của mọi đối tượng có liên quan”. Từ các khái niệm trên, nghiên cứu này sẽ triển khai theo hướng của tác giả 9 Nguyễn Đình Phan (2012), hay nói cách khác: “Chất lượng thể hiện mức độ đạt được và sự phối hợp hài hòa giữa các thuộc tính nội tại khách quan của sản phẩm với cái chủ quan bên ngoài là sự thỏa mãn với mong đợi của khách hàng cả nhu cầu bộc lộ và nhu cầu tiềm ẩn”. Có thể chỉ ra các đặc điểm của chất lượng: 1. Là đặc tính của sự vật (sự việc) được đo lường bằng sự thỏa mãn của khách hàng.
Được cấu thành từ các thuộc tính riêng biệt với sự thỏa mãn và mong đợi của khách hàng. Là tính chất riêng, tạo nên cái khác biệt của từng sự vật (sự việc). Có tác động tích cực và tiêu cực đến các bên liên quan, làm ảnh hưởng trực tiếp vào quá trình đánh giá sự vật (sự việc). Quản lý chất lượng trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm quản lý chất lượng Doanh nghiệp không thể tự nhiên đạt được chất lượng hoặc sinh ra chất lượng. Để đạt được chất lượng như mong muốn, doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện việc quản lý chất lượng theo hướng đúng đắn. Hay nói một cách rộng hơn, doanh nghiệp muốn đạt được hiệu quả theo phương diện chất lượng thì phải thực hiện một chức năng nhỏ trong hàng loạt các công việc quản lý theo chức năng như: chất lượng, tài chính, Marketing, sản xuất, nhân lực,… nhằm định hướng và kiểm soát tổ chức theo phương diện chất lượng đó chính là quản lý chất lượng. Có khá nhiều quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng, Ngô Phúc Hạnh (2010) đã đề cập trong Giáo trình quản lý chất lượng, NXB Tài chính như sau: Theo A.Robertson (dẫn theo Ngô Phúc Hạnh, 2010), chuyên gia người Anh về chất lượng: “Quản lý chất lượng được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất, đảm bảo sản xuất có hiệu quả và thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng”.
Philip Crosby, chuyên gia người Mỹ về chất lượng lại cho rằng: “Quản lý 10 chất lượng là một phương tiện có tính chất hệ thống, đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động” (dẫn theo Ngô Phúc Hạnh, 2010). Cụ thể hơn, Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 đã định nghĩa: “Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng” Khái niệm về quản lý chất lượng của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 sẽ được sử dụng cho nghiên cứu này. Trong đó, việc định hướng và kiểm soát về chất lượng sẽ bao gồm thiết lập chính sách và mục tiêu, hoạch định, kiểm soát và đảm bảo, từ đó sẽ thực hiện việc cải tiến chất lượng. Mặc dù các khái niệm khác nhau, nhưng có thể chỉ ra được một số những đặc điểm chung của quản lý chất lượng trong doanh nghiệp như sau: Được xem là một công cụ quản lý chức năng trong số các chức năng của doanh nghiệp.
(tài chính, sản xuất, marketing ,…) Quản lý chất lượng có tính hệ thống, có định hướng rõ ràng, thể hiện thông qua việc xây dựng các hoạt động định hướng. Có mục tiêu đảm bảo duy trì và phát triển chất lượng nhằm thỏa mãn khách hàng. Thể hiện sự phối hợp giữa các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp nhằm đạt được muc tiêu. Nguyên tắc quản lý chất lượng Nguyễn Đình Phan (2012) đã chỉ rõ rằng bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 mà cụ thể là ISO 9000:2015 (hệ thống quản lý và chất lượng) có quy định cụ thể tám nguyên tắc mà doanh nghiệp phải tuân thủ để cải tiến hiệu năng nhằm đạt được kết quả như mong muốn.
Cụ thể: Nguyên tắc 1: Tập trung vào khách hàng. Doanh nghiệp luôn phải phụ thuộc vào khách hàng để tồn tại. Chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp cũng do khách hàng quyết định từ sự hài lòng, thỏa mãn. Tuy nhiên, sự hài lòng, thỏa mãn của khách hàng lại chịu ảnh hưởng bởi rất 11 nhiều yếu tố đến từ cả bên ngoài và bên trong doanh ngiệp.
Đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn phân tích những nhu cầu của thị trường, đón được những nhu cầu của khách hàng mới, duy trì và phát triển những nhu cầu của khách hàng cũ. Việc tìm hiểu nhu cầu của khách hàng một cách không ngừng nghỉ và chuẩn bị cho nguồn lực nhằm đáp ứng nhu cầu đó chính là then chốt của yếu tố này. Nguyên tắc 2: Vai trò lãnh đạo Lãnh đạo doanh nghiệp chịu sự kỳ vọng sẽ thực hiện đúng nhiệm vụ và đóng vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo để doanh nghiệp đạt được hiệu quả đã đề ra. Điều quan trọng là người lãnh đạo phải tạo ra được sự đồng bộ giữa những mục tiêu và môi trường nội bộ trong doanh nghiệp, thống nhất ý chí của mọi người để cùng tham gia vì mục tiêu chung của tổ chức.
Việc trực tiếp lập kế hoạch, đánh giá và đề xuất hướng đi cho doanh nghiệp, ghi nhận và khuyến khích nỗ lực của nhân viên, đề cao sự sáng tạo trong công việc là những công việc then chốt của yếu tố này. Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người Tác giả đã chỉ rõ rằng: “Con người là yếu tố quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp”. Thể hiện rằng con người chính là nguồn lực lớn nhất và quan trọng nhất của doanh nghiệp, do đó, để đạt được những mục tiêu, các thành viên đều phải tham gia vào quá trình thực hiện những mục tiêu đó. Cộng với sự hiểu biết, kinh nghiệm và sự nhiệt tình hăng hái của từng người trong từng lĩnh vực để cải tiến chất lượng công việc.
Việc tạo điều kiện cho nhân viên học hỏi, nâng cao trình độ và kỹ năng chuyên môn, ghi nhận những kết quả mà nhân viên đạt được để khuyến khích sự tham gia của mọi người là công việc then chốt của yếu tố này. Nguyên tắc 4: Quản trị theo cách tiếp cận dựa trên quá trình Doanh nghiệp cần nhận thức và quản lý các quá trình vận hành nếu muốn hoạt động hiệu quả. Sự liên kết trách nhiệm của lãnh đạo, việc quản lý nguồn lực, phân tích, cải tiến và tạo sản phẩm thành một quá trình nhằm quản trị tốt hơn, từ đó tạo ra sản phẩm phục vụ đúng với yêu cầu của khách hàng là điều cần thiết. Bản chất của sự liên kết chính là việc quản lý mối quan hệ giữa từng công việc, bộ phận.
Điều này cùng với với việc đảm bảo nhận thức được nhu cầu đầu vào của khách hàng là công 12 việc then chốt của yếu tố này. Nguyên tắc 5: Quản trị theo cách tiếp cận dựa trên hệ thống Nguyên tắc này đã được loại bỏ trong Tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9000:2015 sau khi điều chỉnh dựa trên Bộ tiêu chuẩn ISO 9000. Tuy nhiên, nội dung của nguyên tắc vẫn hoàn toàn phù hợp. Cụ thể, một tổ chức được coi là một hệ thống lớn, tạo nên từ nhiều hệ thống nhỏ bên trong (tổ chức nhỏ).
Do đó, để thực hiện việc quản trị doanh nghiệp thì phải quản trị tốt từng tổ chức, phòng ban, bộ phận nhỏ trong doanh nghiệp đó. Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục Môi trường kinh doanh luôn biên động đòi hỏi doanh nghiệp cũng phải cải tiến không ngừng nghỉ. Có thể xem cải tiến vừa là mục tiêu, cũng là phương pháp để đạt được mục tiêu chung là tăng khả năng cạnh tranh và đạt được mức độ chất lượng cao nhất. Tùy theo quy mô và mục đích, việc cải tiến có thể tiến hành đồng loạt trong toàn doanh nghiệp hoặc một vài bộ phận nhất định.
Việc xác định và loại bỏ những nguyên nhân tồn đọng, thực hiện những hành động khắc phục là công việc then chốt của yếu tố này. Nguyên tắc 7: Ra quyết định dựa trên sự kiện Các quyết định phải dựa trên việc phân tích dữ liệu cụ thể nếu muốn có hiệu quả. Việc phân tích các dữ liệu phải dựa theo chiến lược trước đó của doanh nghiệp, những yếu tố đầu vào, các quá trình quan trọng ở nguyên tắc số 4 và yếu tố đầu ra để đảm bảo sự thống nhất và thực tiễn nhất. Nguyên tắc 8: Xây dựng mối quan hệ cùng có lợi với nhà cung cấp.
Việc thiết lập mối quan hệ với nhà cung cấp sẽ đảm bảo lợi ích của cả hai bên. Đây có thể xem là mối quan hệ chiến lược bởi có thể giúp doanh nghiệp hiểu rõ thị trường, giúp đưa ra những hướng đi nhằm xâm nhập một thị trường hoặc tìm kiếm những thiết kế mới, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.