Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Trình bày tổng quan chung về nội dung của nghiên cứu, bao gồm: Vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tƣợng nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và Mô hình nghiên cứu Nêu các lý thuyết liên quan đến sản phẩm, dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng. Bên cạnh đó, kết hợp tìm hiểu các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Từ đó, đƣa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết cho nghiên cứu của mình.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, xây dựng quy trình nghiên cứu, sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lƣợng, xác định số mẫu khảo sát và xây dựng thang đo chính thức cho nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày tổng quan về các loại hình kinh doanh quán cà phê tại TP. Phan Thiết và chuỗi cửa hàng P. Mô tả mẫu nghiên cứu chính thức, phân tích dữ liệu gồm: Đánh giá thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha, phân tích nhân tố EFA, phân tích hồi quy, đánh giá mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 4 Kết luận lại kết quả nghiên cứu đạt đƣợc. Từ đó, đề tài đƣa ra các hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ tại chuỗi cửa hàng P.Y Coffee trên địa bàn TP. Phan Thiết tỉnh Bình Thuận. KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Chƣơng 1 đã giới thiệu chung về đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm và dịch vụ tại chuỗi cửa hàng P.Y Coffee trên địa bàn TP.
Phan Thiết tỉnh Bình Thuận”, trình bày mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của từng chƣơng 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Chuỗi cửa hàng Theo Wikipedia, Chuỗi cửa hàng hoặc chuỗi bán lẻ là một cửa hàng lẻ trong đó một số địa điểm chia sẻ thƣơng hiệu, quản lý trung tâm và thực tiễn kinh doanh đƣợc tiêu chuẩn hóa. Họ đã thống trị thị trƣờng bán lẻ và ăn uống, và nhiều loại dịch vụ, ở nhiều nơi trên thế giới. Một cơ sở bán lẻ nhƣợng quyền là một hình thức của chuỗi cửa hàng.
Theo “Republic of China Industry Standard Category” của Bộ Thƣơng Mại Trung Quốc (2008)5: Bất kỳ quán trà, quán cà phê, tiệm tráng miệng, quán thức uống lạnh bán các loại trà, cà phê, thức uống lạnh, trái cây hay các sản phẩm thức uống khác cho khách hàng tiêu thụ đều đƣợc xem là chuỗi cửa hàng đang hoạt động. Đào Xuân Khƣơng, Chuỗi cửa hàng6 là một loạt cửa hàng có cùng thƣơng hiệu, cùng một loại hàng hóa, đƣợc tiêu chuẩn hóa và vận hành thống nhất. Các chuỗi cửa hàng đƣợc chia thành các loại cơ bản: - Chuỗi cửa hàng thông thƣờng (Regular chain): Là hệ thống cửa hàng do một doanh nghiệp sở hữu. Doanh nghiệp này tự bỏ vốn thành lập và tổ chức điều hành một hệ thống chuỗi cửa hàng của riêng mình.
- Chuỗi cửa hàng nhƣợng quyền (Franchise chain): Là hệ thống cửa hàng mà doanh nghiệp chuỗi mẹ với tƣ cách là bên nhƣợng quyền cấp quyền kinh doanh cho cửa hàng nhận quyền hay cửa hàng mua quyền nhằm thu hút các cửa hàng bán lẻ độc lập ở các địa điểm khác nhau và thuộc sở hữu khác nhau vào làm cửa hàng thành viên của chuỗi. - Chuỗi cửa hàng tự nguyện (Voluntary chain): Là loại hình tổ chức bán lẻ dựa trên liên minh, hợp tác giữa nhiều cửa hàng bán lẻ độc lập trong việc sử dụng thƣơng hiệu chung, cùng nhau mua hàng và sử dụng dịch vụ logistic. - Chuỗi cửa hàng phức hợp: Là loại chuỗi phức hợp hai trong ba loại trên. 5 Republic of China Industry Standard Category, Department of Commerce, Ministry of Economic Affairs, 2008.
Đào Xuân Khƣơng, “Mô hình Chất lƣợng dịch vụ trong bán lẻ: Giải pháp dành cho doanh nghiệp bán lẻ và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ”, NXB Lao Động, 2021. Khách hàng Theo Wikipedia, Khách hàng là những cá nhân hay tổ chức mà doanh nghiệp đang hƣớng các nỗ lực marketing vào. Họ là ngƣời có điều kiện ra quyết định mua sắm. Khách hàng là đối tƣợng đƣợc thừa hƣởng các đặc tính, chất lƣợng của sản phẩm hoặc dịch vụ.
Theo Tom Peters (1987), Khách hàng là “tài sản làm tăng thêm giá trị”. Và dĩ nhiên nó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không đƣợc ghi nhận trong báo cáo. Khách hàng là tập hợp những cá nhân, nhóm ngƣời, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ và mong muốn đƣợc thỏa mãn nhu cầu của họ. Theo Peter Drucker (1942) - Cha đẻ của ngành quản trị thì nhận định “Tạo ra khách hàng” là mục tiêu chính doanh nghiệp.
Khi phục vụ khách hàng, hãy nhớ rằng không phải chúng ta giúp đỡ họ mà họ đang giúp đỡ chúng ta bằng cách cho chúng ta cơ hội để phục vụ. Nhƣ vậy, khách hàng là những cá nhân, nhóm ngƣời hay tổ chức mà doanh nghiệp phải phục vụ để đo lƣờng mức độ hài lòng, khách hàng gồm khách hàng bên ngoài và khách hàng nội bộ. Khách hàng bên ngoài: là những khách hàng đã và đang sử dụng sản phẩm dịch vụ tại các cửa hàng hay giao dịch qua điện thoại để biết thêm về thông tin các sản phẩm. Nếu sản phẩm và dịch vụ của chúng ta không đáp ứng đủ để làm hài lòng khách hàng thì có quyền lựa chọn các quán hoặc cửa hàng khác.
Khi đó lợi nhuận doanh nghiệp sẽ chịu thiệt hại và ngƣợc lại, khách hàng đƣợc thỏa mãn là nguồn tạo ra lợi nhuận và họ chính là ngƣời tạo ra sự thành công cho doanh nghiệp. Khách hàng nội bộ: nhân viên chính là “khách hàng” của doanh nghiệp và các nhân viên cũng chính là khách hàng của nhau. Về phía doanh nghiệp, họ phải đáp ứng đƣợc nhu cầu của nhân viên, có những chính sách nhằm phát huy lòng trung thành của nhân viên. Bên cạnh đó, nhân viên cũng cần quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau thì họ mới có tinh thần làm việc tốt, mới có thể phục vụ khách hàng bên ngoài của doanh nghiệp một cách hiệu quả.
Dịch vụ * Định nghĩa dịch vụ Theo Philip Kotler định nghĩa “dịch vụ là một giải pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển 7 quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Nhƣ vậy, dịch vụ bao gồm các lĩnh vực hoạt động nhƣ: Khách sạn, tiệm ăn, hiệu sửa chữa, giải trí, bảo tàng, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm, tƣ vấn, giáo dục, đào tạo, tài chính, ngân hàng, bán buôn bán lẻ, giao thông vận tải, các phƣơng tiện công cộng ( điện, nƣớc, viễn thông…), dịch vụ công (tòa án, quân đội, cảnh sát, cứu hỏa). Theo Từ điển Tiếng Việt, Dịch vụ7 là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và đƣợc trả công.William Stanton, “Dịch vụ là những hoạt động vô hình có thể nhận dạng riêng biệt, về cơ bản mang lại sự thỏa mãn mong muốn và không nhất thiết phải gắn liền với việc bán một sản phẩm hay một dịch vụ khách”.TS Nguyễn Văn Thanh8 cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thƣơng hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho ngƣời tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”.
Từ những quan điểm trên đây ta có thể hiểu, Dịch vụ là sản phẩm không tồn tại dƣới dạng vật chất, nó đƣợc hiểu dƣới dạng của lao động thể lực, quản lý, khả năng tổ chức, những kỹ năng chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu và làm hài lòng khách hàng. * Các đặc tính của dịch vụ - Tính không thể tách rời (Inseparability) Trái với các dịch vụ, hàng hóa vật chất đƣợc sản xuất tập trung tại một nơi, rồi vận chuyển đến nơi có nhu cầu. Nhà sản xuất cũng có thể sản xuất khi nào thuận tiện, rồi lƣu trữ vào kho và đem bán khi có nhu cầu. Do đó, họ có thể dễ dàng thực hiện cân đối cung cầu.
Nhƣng quá trình cung cấp và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Ngƣời cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên. Đối với một số các DV, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp DV. - Tính không đồng nhất (Variability) 7 Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr256.TS Nguyễn Văn Thanh, Bài giảng Marketing dịch vụ, khoa Kinh tế & quản lý, Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội.
8 Việc thực hiện dịch vụ thƣờng khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, ngƣời phục vụ, thời gian thực hiện, đối tƣợng phục vụ, địa điểm và điều kiện phục vụ. Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ cao cấp, thông thƣờng đến cấp thấp. Vì vậy, việc đánh giá chất lƣợng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vào một thƣớc đo chuẩn mà phải xem xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trƣờng hợp cụ thể. Nhiều dịch vụ chỉ đơn giản là đƣợc điều chỉnh cho phù hợp với từng khách hàng hoặc với từng hoàn cảnh.
- Tính vô hình (Intangibility) Tính vô hình có thể xuất hiện trong đầu bạn, các dịch vụ là sản phẩm phi vật chất, không thể nhìn thấy, nếm, cảm nhận, nghe hoặc ngửi đƣợc nhƣ các sản phẩm hữu hình. Do tính chất vô hình, dịch vụ không thể dùng thử đƣợc nhƣ sản phẩm vật chất. Khách hàng chỉ có thể cảm nhận và đánh giá chất lƣợng dịch vụ khi đã sử dụng dịch vụ. - Không thể lưu trữ được (Perishability) Dịch vụ không thể lƣu trữ để bán hoặc sử dụng cho sau này vì nó không phải là sản phẩm hữu hình.
Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó cung cấp. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của dịch vụ, vì nó có thể có tác động lớn đến kết quả tài chính. Chất lượng dịch vụ * Định nghĩa chất lượng dịch vụ Theo Leonard L.