MỞ ĐẦU I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Chất thải của ngành khai thác than được sinh ra do hoạt động bóc đất mỏ vỉa khi khai thác than và chế biến tuyển than. Loại chất thải này đã gây ảnh hưởng xấu rất lớn tới môi trường vì lượng khói bụi, ô nhiễm nguồn nước, diện tích đất phục vụ cho việc sử dụng làm nơi đổ thải là rất lớn gây lãng phí tài nguyên đất. Mặt khác, trong đá xít thải còn chứa 5-8% lượng than sạch, lượng than này đã bị biến thành chất thải gây lãng phí tài nguyên quốc gia.
Trước những áp lực của nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, lãng phí nguồn tài nguyên, nhiều nước trên thế giới đã nỗ lực nghiên cứu để tìm giải pháp tối ưu nhằm tái chế và sử dụng loại chất thải này. Nhiều nước đã thành công trong việc đưa chất thải này vào sử dụng trong ngành xây dựng. Họ đã chế biến sản xuất thử nghiệm gạch sản xuất từ nguồn đá xít thải, loại gạch này có chất lượng tương đương so cới gạch sản xuất từ đất sét và có thể dùng làm vật liệu cho các công trình giao thông, xây dựng dân dụng và công nghiệp. Tuy nhiên giá thành của loại vật liệu này còn tương đối cao, nhưng để để ưu tiên giải quyết các vấn đề ô nhiễm, tận thu tài nguyên nên nhiều nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ về miễn giảm thuế nhằm khuyến khích sử dụng loại vật liệu này như: Nga, Trung Quốc, Pháp,.
Ở Việt Nam, tại Quảng Ninh hiện có 4 vùng khai thác than tập trung như: Đông Triều, Uông Bí, Hạ Long và Cẩm Phả. Theo quy hoạch của ngành than Việt Nam đến năm 2020, Cẩm Phả sẽ có khoảng 16 mỏ và công trường khai thác lộ thiên đang hoạt động. Sản lượng khai thác từ 14-16 triệu tấn/năm, tương ứng với khối lượng đất bốc từ 180-200 triệu m3 /năm. Lượng chất thải càng lớn thì các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu tới đời sống của nhân dân gần khu vực đó càng nhiều.
Cứ vào mùa mưa lũ là gây sạt lở núi thải gây thiệt hại về người và tài sản, nhà cửa của nhân dân. Sông suối tự nhiên bị biến đổi dòng chảy và chức năng tưới tiêu thành đường đi riêng của nước từ bãi thải than gây ô nhiễm môi trường sinh thái. Vì vậy, việc nghiên cứu sử dụng chất thải của ngành khai thác than trong xây dựng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu sử dụng chất thải của ngành khai thác than làm cốt liệu cho bê tông.
Ứng dụng cho kết cấu mái kè sông Sặt – tỉnh Hải Dương. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu là đá thải từ các mỏ than ở Quảng Ninh. Trong luận văn này ta tiến hành nghiên cứu các tính chất của loại vật liệu này. Dùng chúng thay thế các loại đá thông thường sử dụng để chế tạo bê tông mác 20 Mpa.
Ứng dụng cho kết cấu các tấm lát mái kè sông Kẻ Sặt –tỉnh Hải Dương. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU -Tổng kết các tài liệu liên quan trong và ngoài nước. -Kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẤT THẢI CỦA NGÀNH KHAI THÁC THAN Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 1.
Giới thiệu về chất thải của ngành khai thác than 1. Khái niệm về chất thải rắn (CTR) Chất thải rắn sinh ra chưa được thu gom và xử lý triệt để là nguồn gây ô nhiễm cả ba môi trường: đất, nước và không khí. Tại các bãi thải chất thải, nước rỉ ra từ các bãi thải, mùi không khí ô nhiễm, bụi là mối đe dọa đối với nguồn nước mặt và nước ngầm trong khu vực. Khối lượng chất thải rắn từ các hoạt động của con người ngày càng gia tăng nhanh chóng theo tốc độ gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội.
Lượng chất thải rắn nếu không được xử lý tốt sẽ dẫn đến hàng loạt các hậu quả môi trường không thể lường trước được. Các vấn đề môi trường do chất thải rắn gây ra thường là hậu quả của việc quản lý không hợp lý chất thải rắn từ nguồn phát sinh đến nơi thải bỏ cuối cùng. Xả thải bừa bãi chất thải rắn xuống kênh rạch đã làm ô nhiễm nguồn nước mặt ở nhiều khu vực. Chôn lấp chất thải rắn không hợp vệ sinh đã gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước mặt, môi trường nước ngầm và không khí ở hầu hết các khu vực có bãi đổ thải.
Đó là chưa kể đến các sự cố môi trường khác như: lún, trượt bãi chôn lấp, tràn nước rỉ rác ra môi trường xung quanh, mùi hôi thối, bụi ảnh hưởng trên diện rộng, phát sinh ruồi muỗi và các loại côn trùng,. Chỉ bằng cách tổ chức, vận hành và quản lý một cách hiệu quả chất thải rắn từ nguồn phát sinh đến nơi thải bỏ cuối cùng mới có thể giảm được chi phí cũng như hạn chế các vấn đề môi trường do chất thải gây ra. Khi từng khâu trong hệ thống quản lý chất thải rắn được tổ chức hợp lý và các khâu trong hệ thống này được phối hợp vận hành một cách nhịp nhàng, chất thải sẽ không còn là vấn nạn môi trường cho con người. Khái niệm: Chất thải được hiểu như quy định tại Điều 2 của Luật Bảo Vệ Môi Trường năm 2005: “chất thải là vật chất ở dạng rắn, lỏng, khí, mùi hoặc các dạng khác thải 4 ra từ sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác của con người”.
Chất thải rắn bao gồm tất cả các chất thải ở dạng rắn, phát sinh do các hoạt động của con người và sinh vật được thải bỏ khi chúng không còn hữu ích hay khi con người không muốn sử dụng. Nguồn gốc phát sinh và hệ thống quản lý chất thải rắn: Quản lý chất thải rắn là sự kết hợp kiểm soát nguồn thải, tồn trữ, thu gom, trung chuyển và vận chuyển, xử lý và đổ chất thải rắn theo phương thức tốt nhất nhằm đảm bảo không ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, thỏa mãn các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn cảnh quan đô thị và hạn chế tất cả các vấn đề môi trường liên quan. Quản lý thống nhất chất thải rắn là việc lựa chọn và áp dụng kỹ thuật, công nghệ và chương trình quản lý thích hợp nhằm hoàn thành mục tiêu đặc biệt là quản lý chất thải rắn. Ta có sơ đồ kỹ thuật quản lý chất thải rắn: Hình 1.1: Sơ đồ tổng quát hệ thống quản lý chất thải rắn 5 * Các nguồn phát sinh chất thải rắn (CTR) bao gồm: Bảng 1.1: Loại CTR theo các nguồn phát sinh khác nhau Nguồn phát sinh Loại chất thải Hộ gia đình Rác thực phẩm, giấy, cacton, nhựa, túi nylon, vải, da, rác vườn, gỗ, thủy tinh, lon thiếc, nhôm, kim loại, tro, lá cây, chất thải đặc biệt như: pin, dầu nhớt xe, lốp xe, ruột xe, sơn thừa,.
Khu thương mại Giấy cacton, nhựa, túi nylon, gỗ, rác thực phẩm, thủy tinh, kim loại, chất thải đặc biệt như: vật dụng gia đình hư hỏng (kệ sách, đèn, tủ.), đồ điện tử hư hỏng (máy radio, tivi,.), tủ lạnh, máy giặt hỏng, pin, dầu nhớt xe, săm lốp, sơn thừa,. Công sở Giấy, cacton, nhựa, túi nylon, gỗ, rác thực phẩm, thủy tinh, kim loại, các loại chất thải đặc biệt như: kệ sách, đèn, tủ hỏng, pin, dầu nhớt, săm lốp xe, sơn thừa. Khu công cộng Giấy, túi nylon, lá cây,. Xây dựng Gỗ, thép, bê tông, đất, cát Rác sinh hoạt, chất thải do xe máy tạo ra, đặc biệt là Khai thác mỏ lượng lớn đất đá thải được sinh ra do việc khai mỏ.
Trạm xử lý nước Bùn thải * Tồn trữ tại nguồn: Chất thải rắn được lưu trữ khác nhau tùy theo đặc điểm nguồn phát sinh, khối lượng chất thải cần lưu trữ, chu kì thu gom và phương tiện thu gom,. * Thu gom: Chất thải sau khi được tập trung tại những điểm quy định sẽ được thu gom và vận chuyển đến trạm trung chuyển, trạm xử lý hoặc bãi đổ thải. Chất thải cũng có thể được chuyển đến khu tái chế, xử lý để thu hồi những thành phần có giá trị, phần còn lại sau đó mới được chuyển đến bãi chôn lấp. * Trung chuyển và vận chuyển: Các trạm trung chuyển được sử dụng để tối ưu hóa năng suất lao động của đội thu gom và đội xe.
Trạm trung chuyển được sử dụng khi: 6 + Xảy ra hiện tượng đổ chất thải rắn không đúng quy định do khoảng cách vận chuyển quá xa. + Vị trí thải bỏ quá xa tuyến đường thu gom. + Sử dụng xe thu gom có dung tích nhỏ. + Khu vực phục vụ là khu dân cư thưa thớt.
* Tái chế và xử lý: Rất nhiều thành phần trong rác thải có khả năng tái chế như: giấy, carton, túi nylon, nhựa, cao su, da, gỗ, thủy tinh, kim loại, chất thải rắn của ngành than,. Các thành phần còn lại, tùy theo phương tiện kĩ thuật hiện có sẽ được xử lý bằng các phương pháp khác nhau như: sản xuất phân compost, sản xuất khí sinh học (biogas), đốt thu hồi năng lượng hay đổ ra bãi chôn lấp. * Bãi chôn lấp: Bãi chôn lấp hợp vệ sinh là phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn đơn giản nhất và chấp nhận được về mặt môi trường. Ngay cả khi áp dụng các biện pháp giảm lượng chất thải, tái sử dụng và tái chế, việc thải bỏ phần chất thải còn lại ra bãi chôn lấp vẫn là một khâu quan trọng trong hệ thống quản lý thống nhất chất thải rắn.
Bãi chôn lấp hợp vệ sinh và an toàn là bãi thải khi được thiết kế và vận hành sao cho giảm đến mức thấp nhất tác động đến sức khỏe cộng đồng và môi trường. Bãi chôn lấp hợp vệ sinh và an toàn được thiết kế và vận hành có lớp lót đáy, các tầng che phủ hàng ngày và che phủ trung gian, có hệ thống thu gom và xử lý nước rỉ chất thải, hệ thống thu gom và xử lý khí thải, bụi, được che phủ cuối cùng và duy tu, bảo trì khi đóng bãi chôn lấp. Phân loại chất thải rắn Chất thải rắn (CTR) có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau: - Phân loại dựa vào nguồn gốc phát sinh như: rác thải sinh hoạt, văn phòng, thương mại, công nghiệp, đường phố, chất thải trong quá trình xây dựng hay đập phá nhà xưởng. - Phân loại dựa vào đặc điểm tự nhiên như là các chất hữu cơ, vô cơ, chất có thể cháy hoặc không có khả năng cháy.